Home / Chùm thơ chọn lọc / Bắc Hành Tạp Lục – Tập thơ nổi tiếng nhất của Nguyễn Du phần 6

Bắc Hành Tạp Lục – Tập thơ nổi tiếng nhất của Nguyễn Du phần 6

Bắc Hành Tạp Lục – Tập thơ nổi tiếng nhất của Nguyễn Du phần 6

Trọn bộ tập thơ Bắc Hành Tạp Lục của đại thi hào Nguyễn Du sẽ được chúng tôi chia sẻ cho các bạn trong bài viết này. Nguyễn Du nổi tiếng là một nhà thơ xuất chúng với ngòi bút tinh tế cùng lối thơ sâu sắc giàu giá trị. Ông đã cho ra đời những tập thơ vang danh được đưa vào chương trình dạy học gắn bó với nhiều thế hệ bạn đọc. Những trang thơ của ông luôn được mọi người đánh giá cao và săn đón. Cùng nhau đón xem nhé!

Hoàng Hà trở lạo 黃河阻潦

龍門西上赤雲浮,

傾盡崑崙一片秋。

百里散流無定派,

一波矗起便成洲。

麥糕土狗難為食,

落梗漂萍失自謀。

剩有閒心無罣礙,

不妨終日對浮鷗。

Hoàng Hà trở lạo

Long Môn tây thượng xích vân phù,

Khuynh tận Côn Lôn nhất phiến thu.

Bách lý tản lưu vô định phái,

Nhất ba sực khởi tiện thành châu.

Mạch cao thổ cẩu nan vi thực,

Lạc ngạnh phiêu bình thất tự mưu.

Thặng hữu nhân tâm vô quải ngại,

Bất phương chung nhật đối phù âu.

Dịch nghĩa

Phía tây núi Long Môn, mây đỏ nổi

Làm nghiêng cả một mảng trời thu núi Côn Lôn

Nước tràn trăm dặm không thấy đâu là phương hướng

Sóng dựng một luồng nổi thành bãi

Bánh bột mạch, thịt dê thật khó ăn

Cành gãy, bèo trôi, không tự mình lo toan gì được

Có thừa một tấm lòng an nhiên vô ngại

Chẳng ngại gì, cả ngày đối mặt với đám chim âu

Tỉ Can mộ 比干墓 • Mộ Tỉ Can

遯狂君子各全身,

八百諸侯會孟津。

七竅有心安避剖,

一丘遺殖盡成人。

目中所觸能無淚,

地下同遊可有人。

慚愧貪生魏田舍,

忠良胡亂彊相分。

Tỉ Can mộ

Độn cuồng các toàn thân,

Bát bách chư hầu hội Mạnh Tân.

Thất khiếu hữu tâm an tị phẫu,

Nhất khâu di thực tẫn thành nhân.

Mục trung sở xúc năng vô lệ,

Địa hạ đồng du khả hữu nhân.

Tàm quý tham sinh Nguỵ điền xá,

Trung lương hồ loạn cưỡng tương phân.

Dịch nghĩa

Bậc quân tử phải đi trốn hoặc giả điên để khỏi bị giết

Tám trăm chư hầu họp nhau ở Mạnh Tân (để đánh vua Trụ tàn ác)

Có trái tim bảy lỗ thì sao không khỏi bị mổ?

(Này đây) một gò cây cỏ (của người chịu chết) thành bậc nhân

Trông tận mắt, có thể nào không rơi nước mắt

Ở dưới đất có người có thể đồng tâm

Đáng xấu hổ họ Ngụy quê mùa tham sống

Dám hồ đồ gượng ép chia hai Trung với Lương

Trở binh hành 阻兵行

金鏘鏘鐵錚錚,

車馬馳驟雞犬鳴。

小戶不閉大戶閉,

扶老攜幼移入城。

本地六月至九月,

滑濬二縣齊稱兵。

賊殺官吏十八九,

滿城西風吹血腥。

更有山東直隸遙相應,

白蓮異術多神靈。

州官聞賊至,

挑燈終夜籍民丁。

州弁聞賊至,

磨礪刀劍戛戛鳴。

州人聞賊至,

三三五五交頭細語聲咿嚶。

行人遠來不解事,

但聞城外進退皆炮聲。

河南一路皆振動,

羽檄急發如飛星。

滾滾塵埃蔽天日,

步騎一蹤復一橫。

騎者彎角弓,

長箭滿壺白羽翎。

步者肩短槊,

新磨鐵刃懸朱纓。

又有新點丁壯之兵器,

削竹為鎗皮上青。

大車載弓,

小車裝尖釘,

終日往來無暫停。

數百里地遍戈甲,

道路壅塞無人行。

長送長嘆短送默,

進退維谷難為情。

昨日黃河水大至,

五日無食棲沙汀。

今日衛州阻盜賊,

不知前路何時清。

安得風車日萬里,

飛身一息來天京。

吾聞內顧頻年苦荒旱,

只有春作無秋成。

湖南河南久無雨,

自春徂秋田不耕。

大男小女頻饑色,

糠枇為食藜為羹。

眼見饑莩死當道,

懷中棗子身邊傾。

空戶壁上有查字,

數百餘戶皆饑零。

小民不忍寒且饑,

苟圖飽燠身為輕。

黃池弄甲不足道,

稍加存恤當自平。

民死在歲不在我,

勿得欺心蔽聖明。

昨見新鄭城門粘榜示,

按戶給粟蘇殘氓。

黃河以北麥又熟,

百日而輩妻子皆得生。

歸來歸來勿作死,

撫官惠保如父兄。

Trở binh hành

Kim tương tương, thiết tranh tranh,

Xa mã trì sâu, kê khuyển minh.

Tiểu hộ bất bế, đại hộ bế,

Phù lão huề ấu di nhập thành.

Bản địa lục nguyệt chí cửu nguyệt,

Hoạt, Tuấn nhị huyện tề xưng binh.

Tặc sát quan lại thập bát cửu,

Mãn thành tây phong xuy huyết tinh.

Cánh hữu Sơn Đông, Trực Lệ dao tương ứng,

Bạch Liên dị thuật đa thần linh.

Châu quan văn tặc chí,

Khiêu đăng chung dạ tịch dân đinh.

Châu biền văn tặc chí,

Ma lệ đao kiếm giát giát minh.

Châu nhân văn tặc chí,

Tam tam ngũ ngũ giao đầu tế ngữ thanh y anh.

Hành nhân viễn lai bất giải sự,

Đản văn thành ngoại tiến thoái giai pháo thanh.

Hà Nam nhất lộ giai chấn động,

Vũ hịch cấp phát như phi tinh.

Cổn cổn trần ai tế thiên nhật,

Bộ kỵ nhất tung phục nhất hoành.

Kỵ giả loan giác cung,

Trường tiễn mãn hồ bạch vũ linh.

Bộ giả kiên đoản sáo,

Tân ma thiết nhận huyền chu anh.

Hựu hữu tân điểm đinh tráng chi binh khí,

Tước trúc vi thương bì thượng thanh.

Đại xa tải cung chước,

Tiểu xa trang tiêm đinh,

Chung nhật vãng lai vô tạm đình.

Sổ bách lý địa biến qua giáp,

Đạo lộ ủng tắc vô nhân hành.

Trường tống trường thán, đoản tống mặc,

Tiến thoái duy cốc nan vi tình.

Tạc nhật Hoàng Hà thuỷ đại chí,

Ngũ nhật vô thực thê sa đinh.

Kim nhật Vệ Châu trở đạo tặc,

Bất tri tiền lộ hà thời thanh.

An đắc phong xa nhật vạn lý,

Phi thân nhất tức lai thiên kinh.

Ngô văn nội cố tần niên khổ hoang hạn,

Chỉ hữu xuân tác vô thu thành.

Hồ Nam, Hà Nam cửu vô vũ,

Tự xuân tồ thu điền bất canh.

Đại nam tiểu nữ tần cơ sắc,

Khang tì vi thực lê vi canh.

Nhãn kiến cơ biểu tử đương đạo,

Hoài trung táo tử thân biên khuynh.

Không ốc bích thượng hữu “tra” tự,

Sổ bách dư hộ giai cơ linh.

Tiểu dân bất nhẫn hàn thả cơ,

Cầu đồ bão úc thân vi khinh.

Hoàng trì lộng giáp bất túc đạo,

Sảo gia tồn tuất đương tự bình.

“Dân tử tại tuế bất tại ngã”,

Vật đắc khi tâm tế thánh minh.

Tạc kiến Tân Trịnh thành môn niêm bảng thị,

Án hộ cấp túc tô tàn manh.

Hoàng Hà dĩ bắc mạch hựu thục,

Bách nhật nhi bối thê tử giai đắc sinh.

Qui lai quy lai vật tác tử,

Phủ thần huệ bảo như phụ huynh.

Xem thêm:  Bài thơ Lời Thì Thầm – Nhà thơ Dương Hoàng

Dịch nghĩa

Đồ đồng đồ sắt leng keng loảng xoảng

Xe ngựa chạy rầm rập, gà chó kêu

Nhà nghèo không đóng cửa, nhà giàu đóng cửa

Dìu già dắt trẻ dời vào trong thành

Ðất này từ đến tháng chín

Hai huyện Hoạt, Tuấn cùng nổi binh

Quan lại mười người, giặc giết tám chín người

Ðầy thành gió tây thổi mùi máu tanh

Lại thêm Sơn Ðông, Trực Lệ từ xa hưởng ứng

Bạch Liên giáo có nhiều phép thuật thần linh

Quan châu nghe tin giặc đến

Khêu đèn suốt đêm lập sổ đinh

Quan võ nghe tin giặc đến

Mài dao liếc kiếm nghe chối tai

Dân trong châu nghe tin giặc đến

Túm ba, tụm năm châu đầu nói xì xào

Khách từ xa đến không hiểu chuyện gì

Chỉ nghe ngoài thành lui tới đều theo tiếng pháo lệnh

Cả miền Hà Nam đều chấn động

Hịch lệnh cấp tốc như sao bay

Bụi cuốn che lấp

Bộ binh kị binh chạy dọc ngang

Kị binh giương cung sừng

Tên dài gắn lông chim trắng để đầy bầu

Bộ binh vác giáo ngắn

Mũi thép mới mài, tua đỏ treo lủng lẳng

Lại có binh khí của tráng binh mới gọi

Vót trúc làm giáo, vỏ còn xanh

Xe lớn chở cung dây

Xe nhỏ chở chông nhọn

Suốt ngày qua lại không ngừng

Mấy trăm dặm chỗ nào cũng có binh lính

Ðường sá bế tắc, không người đi

Người đưa tiễn xa than dài, người đưa tiễn gần im lặng

Tới lui đều trong tình trạng khó khăn

Hôm qua nước Hoàng Hà dâng cao

Năm ngày không có ăn, đậu trên bãi sông

Hôm nay ở Vệ Châu giặc cướp chận đường

Không biết đường trước mặt bao giờ yên

Sao được xe gió một ngày đi vạn dặm

Bay vù một mạch đến thiên kinh

Ta nghe dân trong vùng nhiều năm khổ đại hạn

Chỉ có cầy cấy mà không có thu hoạch

Hồ Nam, Hà Nam đã lâu không mưa

Từ xuân tới thu ruộng bỏ không cày

Trai lớn gái nhỏ vẻ ốm đói

Tấm cám làm cơm, rau lê làm canh

Tận mắt thấy người đói chết trên đường

Hột táo trong bọc lăn bên mình

Nhà bỏ không, có chữ “tra” (xét) trên vách

Mấy trăm nhà đều trôi giạt vì đói

Dân mọn không kham nổi đã lạnh lại đói

Chỉ sao lo được no ấm mà coi nhẹ tấm thân

(Dân đói làm loạn chỉ như trẻ con) chơi đùa binh khí trong vũng ao, không đáng nói

Xét thương một chút là yên ngay

“Dân chết vì năm mất mùa, chẳng phải tại ta” (vua quan)

Ðừng dối lòng che mắt thánh minh.

Hôm trước thấy cửa thành Tân Trịnh yết bảng cáo thị:

“Xét theo từng nhà mà cấp lúa cứu dân sống sót.

Phía bắc sông Hoàng Hà lúa mạch lại chín

Trăm ngày nữa vợ con các người đều được sống

Về đi về đi, chớ có liều chết

Quan phủ gìn giữ dân như cha anh”

Kê thị trung từ 嵇侍中祠

古廟松篁一帶幽,

清風猶似竹林秋。

廣陵調絕餘聲響,

正氣歌成立懦夫。

亙古未乾流血地,

奇忠能破問蟆愚。

可憐江左多名士,

空對江山泣楚囚。

Xem thêm:  Câu nói hay về tình yêu bằng tiếng Anh ngọt ngào, sâu lắng

Kê thị trung từ

Cổ miếu tùng hoàng nhất đới u,

Thanh phong do tự Trúc Lâm thu.

Quảng Lăng điệu tuyệt dư thanh hưởng,

Chính khí ca thành lập nọa phu.

Cắng cổ vị can lưu huyết địa,

Kỳ trung năng phá vấn ma ngu.

Khả liên Giang tả đa danh sĩ,

Không đối giang san khấp Sở tù.

Nhạc Vũ Mục mộ 岳武穆墓

中原百戰出英雄,

丈八神鎗六石弓。

相府已成三字獄,

軍門猶惜十年功。

江湖處處空南國,

松柏錚錚傲北風。

悵望臨安舊陵廟,

栖霞山在暮煙中。

Nhạc Vũ Mục mộ

Trung nguyên bách chiến xuất ,

Trượng bát thành thương lục thạch cung.

Tướng phủ dĩ thành tam tự ngục,

Quân môn do tích thập niên công.

Giang hồ xứ xứ không Nam quốc,

Tùng bách tranh tranh ngạo bắc phong.

Trường vọng Lâm An cựu lăng miếu,

Thê Hà sơn tại mộ yên trung.

Dịch nghĩa

Bậc anh hùng xuất hiện trong trăm trận ở Trung Nguyên

Thương thần dài trượng tám, cung nặng sáu thạch

Ở phủ tướng đã khép vào tội “ba chữ”

Nơi ba quân còn tiếc công mười năm chiến đấu

Sông hồ chốn chốn khắp Nam Tống

Cây tùng cây bách hiên ngang trước gió bắc

Buồn trông lăng miếu cũ ở Lâm An

Núi Thê Hà chìm trong khói chiều

Tần Cối tượng kỳ 1 秦檜像其一

殿檜何年椎作薪,

卻來依傍岳王墳。

是非盡屬千年事,

打罵何傷一假身。

如此錚錚真鐵漢,

奈何靡靡事金人。

誰云於世無功烈,

萬古猶能懼亂臣。

Tần Cối tượng kỳ 1

Điện cối hà niên chuỳ tác tân,

Khước lai y bạng Nhạc vương phần.

Thị phi tẫn thuộc thiên niên sự,

Đả mạ hà thương nhất giả thân.

Như thử tranh tranh chân thiết hán,

Nại hà mĩ mĩ sự Kim nhân?

Thuỳ vân ư thế vô công liệt?

Vạn cổ vô năng cụ loạn thần.

Dịch nghĩa

Cây cối bên điện vua bị chẻ làm củi năm nào

Sao đến nương tựa bên mộ Nhạc Vương

Đúng hay sai, là chuyện nghìn năm phán xét

Đánh mắng đâu có làm đau đớn một cái thân giả

Coi cứng cáp thế kia thật là người sắt thép

Sao lại quị luỵ đi thờ người Kim

Ai bảo nó không có công trạng gì ở đời?

Muôn đời lấy đó làm cho loạn thần phải sợ

Tần Cối tượng kỳ 2 秦檜像其二

格天閣毀玉樓殘,

猶有頑皮在此間。

一世死心懷大毒,

千年生鐵負奇冤。

獄中已濺生前血,

階下徒誅死後奸。

得與忠臣同不朽,

齊天奇福太無端。

Tần Cối tượng kỳ 2

Cách Thiên các huỷ ngọc lâu tàn,

Do hữu ngoan bì tại thử gian.

Nhất thế tử tâm hoài đại độc,

Thiên niên sinh thiết phụ kỳ oan.

Ngục trung dĩ tiễn sinh tiền huyết,

Giai hạ đồ tru tử hậu gian.

Đắc dữ trung thần đồn bất hủ,

Tề thiên kỳ phúc thái vô đoan.

Dịch nghĩa

Gác Cách Thiên đổ nát, lầu ngọc tan hoang

Vẫn còn tên gian ngu bướng càn rở ở đây

Cả một đời trái tim chết chứa nọc độc

Nghìn năm cục sắt sống mang nỗi oan kì lạ

Trong ngục (kẻ trung thần) khi sống đã đổ máu

Dưới thềm hành tội tên gian ác đã chết rồi

Được với bậc trung thần cùng bất hủ

Cái phúc lạ tày trời đó thật oái ăm vô lý

Vương thị tượng kỳ 1 王氏像其一

舌長三尺更何為,

好與權奸備唱隨。

後患正殷擒虎日,

前功安問飲龍期。

一生心跡同夫婿,

千古形骸辱女兒。

底事想來莫須有,

閨中私語更誰知。

Vương thị tượng kỳ 1

Thiệt trường tam xích cánh hà vi?

Hảo dữ quyền gian bị xướng tuỳ.

Hậu hoạn chính ân cầm hổ nhật,

Tiền công an vấn ẩm Long kỳ.

Nhất sinh tâm tích đồng phu tế,

Thiên cổ hình hài nhục nữ nhi.

Để sự tưởng lai “mạc tu hữu”,

Khuê trung tư ngữ cánh thuỳ tri?

Dịch nghĩa

Lưỡi dài ba tấc để làm chi

Khéo cùng quyền thần gian ác kết nên vợ chồng

Ngày bắt được cọp chính là ngày trừ được cái lo về sau

Hỏi làm chi cái công ước hẹn uống mừng (thắng trận) ở Hoàng Long

Một đời bụng dạ giống như chồng

Nghìn năm hình hài làm nhục cho phụ nữ

Ngẫm lại cái án “không cần tội” (án ba chữ)

Trong phòng khuê thủ thỉ nói riêng, ai biết được

Vương thị tượng kỳ 2 王氏像其二

深圖密算勝夫君,

應是晨雞第一人。

不爛已生三寸舌,

純綱還得萬年身。

唱隨盡道應無悔,

伎倆同年更可親。

莫道女兒無力量,

也曾撼破岳家軍。

Vương thị tượng kỳ 2

Thâm đồ mật toán thắng phu quân,

Ưng thị thần kê đệ nhất nhân.

Bất lạn dĩ sinh tam thốn thiệt,

Thuần cương hoàn đắc vạn niên thân.

Xướng tuỳ tận đạo ưng vô hối,

Kĩ lưỡng đồng niên cánh khả thân.

Mạc đạo nữ nhi vô lực lượng,

Dã tằng hám phá Nhạc gia quân.

Dịch nghĩa

Mưu tính thâm hiểm hơn chồng

Đúng là “gà mái gáy sáng” bậc nhất

Sinh ra đã có ba tấc lưỡi “ngoại hạng”

Lại có được tấm thân muôn năm toàn bằng sắt cứng

Giữ trọn đạo vợ chồng, không có gì hối tiếc

Tài khéo gian xảo cùng chồng càng thêm thân mật

Chớ bảo đàn bà không có

(Y thị) đã từng phá tan quân của họ Nhạc

Xem thêm:  Hẹn ước chưa phai - Bùi Hưng

Đồng Tước đài 銅雀臺 • Đài Đồng Tước

一世之雄安在哉,

古人去兮今人來。

不見鄴中魏武帝,

但見江邊銅雀臺。

臺基雖在已傾圮,

陰風怒號秋草靡。

玉龍金鳳盡茫茫,

何況臺中歌舞妓。

斯人盛時誰敢當,

眇視皇帝凌侯王。

只恨層臺空律屼,

小喬終老嫁周郎。

一朝大限有時至,

尚食奏歌圖悅鬼。

分香賣履苦叮嚀,

落落丈夫何爾爾。

奸雄別自有機心,

不是鳴哀兒女氣。

千機萬巧盡成空,

終古傷心漳江水。

我思古人傷我情,

徘徊俯仰悲浮生。

如此英雄且如此,

況乎寸功與薄名。

人間勳業若長在,

此地高臺應未傾。

Đồng Tước đài

Nhất thế chi hùng an tại tai,

Cổ nhân khứ hề kim nhân lai.

Bất kiến Nghiệp trung Nguỵ Vũ Đế,

Đãn kiến giang biên Đồng Tước đài.

Đài cơ tuy tại dĩ khuynh bĩ,

Âm phong nộ hào thu thảo mĩ.

Ngọc Long, Kim Phượng tận mang mang,

Hà huống đài trung ca vũ kỹ.

Tư nhân thịnh thời thuỳ cảm đương,

Miễu thị hoàng đế lăng hầu vương.

Chỉ hận tằng đài không luật ngột,

Tiểu Kiều chung lão giá Chu Lang.

Nhất triêu đại hạn hữu thì chí,

Thượng thực tấu ca đồ duyệt quỷ.

Phân hương mại lí khổ đinh ninh,

Lạc lạc trượng phu hà nhĩ nhĩ.

Gian hùng biệt tự hữu cơ tâm,

Bất thị minh ai nhi nữ khí.

Thiên cơ vạn xảo tận thành không,

Chung cổ thương tâm Chương Giang thuỷ.

Ngã tư cổ nhân thương ngã tình,

phủ ngưỡng bi phù sinh.

Như thử anh hùng thả như thử,

Huống hồ thốn công dữ bạc danh.

Nhân gian huân nghiệp nhược trường tại,

Thử địa cao đài ưng vị khuynh.

Dịch nghĩa

Anh hùng một thuở nay ở đâu?

Người xưa đã qua, ôi! người nay tới

Chẳng thấy Nguỵ Vũ đế trong thành Nghiệp

Chỉ thấy đài Đồng Tước ở bên sông

Nền đài tuy còn, nhưng đã nghiêng đổ

Gió lạnh thét gào, cỏ thu tàn úa

Lầu Ngọc Long, Kim Phụng cũng mịt mờ dấu vết

Huống chi ca nhi, vũ nữ trong đài

Người ấy lúc thịnh, ai dám chống lại?

Coi thường vua, lấn lướt vương hầu

Chỉ hận mấy tầng lầu cao sừng sững

Mà nàng Tiểu Kiều đến già vẫn là vợ Chu Lang

Một sớm mai hạn lớn xảy đến

Dâng thức ăn, đàn hát mong làm vui hồn ma

Chia hương, bán giày, khổ tâm dặn dò

Bậc trượng phu tài ba lỗi lạc mà sao như thế?

Kẻ gian hùng riêng có mưu kế trong lòng

Chẳng phải kêu thương uỷ mị như tính khí đàn bà?

Rốt cuộc muôn khéo nghìn khôn cũng thành không tất cả

Từ ngàn xưa nước sông Chương

Ta nghĩ đến người xưa mà xót nỗi mình

Bồi hồi ngẩng lên cúi xuống, thương kiếp phù sinh

Anh hùng đến như thế mà như thế

Huống chi những kẻ có chút công nhỏ mọn, danh vọng mỏng manh

Nghiệp lớn ở đời nếu còn mãi

Thì toà đài cao ở đất này đã chưa đổ

Thất thập nhị nghi trủng 七十二疑冢

鄴城城外野風吹,

秋草蕭蕭舊事非。

枉用一人無限智,

空留萬古許多疑。

臭名滿槨藏何用,

賊骨千年罵不知。

何似錦城先主廟,

至今松柏有光輝。

Thất thập nhị nghi trủng

Nghiệp thành thành ngoại dã phong xuy,

Thu thảo tiêu tiêu cựu sự phi.

Uổng dụng nhất nhân vô hạn trí,

Không lưu vạn cổ hứa đa nghi.

Xú danh mãn quách tàng hà dụng,

Tặc cốt thiên niên mạ bất tri.

Hà tự Cẩm Thành Tiên chủ miếu,

Chí kim tùng bách hữu quang huy.

Dịch nghĩa

Bên ngoài thành Nghiệp gió đồng thổi

Cỏ thu tiêu điều, việc cũ đã qua

Dùng mưu trí vô hạn của một người thật uổng phí

Chỉ để lại bao nỗi ngờ cho muôn đời sau

Tiếng xấu đầy hòm, chôn giấu để làm chi

Nắm xương giặc nghìn năm bị chửi rủa mà không biết

Sao bằng miếu Tiên chủ ở Cẩm Thành

Đến nay cây tùng cây bách còn chiếu sáng

Lạn Tương Như cố lý 藺相如故里

大勇不以力,

僅有藺相如。

僥倖能完璧,

徘徘善避車。

豐碑留姓字,

全趙免丘墟。

慚愧力扼虎,

平生無可書。

Lạn Tương Như cố lý

Đại dũng bất dĩ lực,

Cận hữu Lạn Tương Như.

Kiểu hãnh năng hoàn bích,

Bồi bồi thiện tị xa.

Phong bi lưu tính tự,

Toàn Triệu miễn khâu khư.

Tàm quý lực ách hổ,

Bình sanh vô khả thư.

Dịch nghĩa

Bậc đại dũng không cần đến sức mạnh

Chỉ có Lạn Tương Như

Cầu may lấy lại được ngọc bích

Đi vòng đường khéo tránh xe

Bia lớn ghi tên họ

Bảo toàn cho nước Triệu không thành gò đống

Thẹn thay cho kẻ có sức bắt được cọp

không có gì đáng ghi

Bắc Hành Tạp Lục là một tập thơ được đông đảo bạn đọc chú ý chứa đựng nhiều cảm xúc và nỗi niềm sâu sắc của nhà thơ. Đọc thơ chữ Hán Nguyễn Du chúng ta hiểu cội nguồn chủ nghĩa nhân đạo trong ông. Mời các bạn đón xem phần 7 vào một ngày không xa nhé! Thân Ái!

Xem Thêm:Bắc Hành Tạp Lục – Tập thơ nổi tiếng nhất của Nguyễn Du phần 5

Theo Thuvientho.com

Check Also

Những bài thơ hay về hoa cúc họa mi

Những bài thơ hay về hoa cúc họa mi

Hoa cúc họa mi còn được gọi là hoa cúc dại hay là hoa cúc …