Home / Chùm thơ chọn lọc / Chế Lan Viên-tiểu sử về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác

Chế Lan Viên-tiểu sử về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác

Chế Lan Viên-tiểu sử về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác

Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn của Việt Nam. Thơ của ông dễ dàng đi vào lòng người đọc và được nhiều độc giả yêu mến. Nhắc đến thơ ông người ta nghĩ ngay đến những bài thơ nổi tiếng như:“Tiếng Hát Con Tàu”, “Người Đi Tìm Hình Của Nước”, “Mộng”, “Điệu Nhạc Điên Cuồng”…Với những đóng góp to lớn cho thi ca Việt Nam, ông vinh dự được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996). Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu về nhà thơ này nhé!

Tiểu sử về cuộc đời của nhà thơ Chế Lan Viên

Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1920 (tức ngày 9 tháng 9 năm Canh Thân) tại xã Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.

Ông lớn lên và đi học ở Quy Nhơn, đỗ bằng Thành chung (THCS hay cấp II hiện nay) thì thôi học, đi dạy tư kiếm sống. Có thể xem Quy Nhơn, Bình Định là quê hương thứ hai của Chế Lan Viên, nơi đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn của nhà thơ.

Ông bắt đầu làm thơ từ năm 12, 13 tuổi. Năm 17 tuổi, với bút danh Chế Lan Viên, ông xuất bản tập thơ đầu tay nhan đề Điêu tàn, có lời tựa đồng thời là lời tuyên ngôn nghệ thuật của “Trường Thơ Loạn”. Từ đây, cái tên Chế Lan Viên trở nên nổi tiếng trên thi đàn Việt Nam. Ông cùng với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn được người đương thời gọi là “Bàn thành tứ hữu” của Bình Định.

Năm 1939, ông ra học tại . Sau đó Chế Lan Viên vào Sài Gòn làm báo rồi ra Thanh Hóa dạy học. Năm 1942, ông cho ra đời tập văn Vàng sao, tập thơ triết luận về đời với màu sắc siêu hình, huyền bí.

Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông tham gia phong trào Việt Minh tại Quy Nhơn, rồi ra Huế tham gia Đoàn xây dựng cùng với Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Đào Duy Anh. Thời kỳ này, Chế Lan Viên viết bài và làm biên tập cho các báo Quyết thắng, Cứu quốc, Kháng chiến. Phong cách thơ của ông giai đoạn này cũng chuyển dần về trường phái hiện thực. Tháng 7 năm 1949, trong chiến dịch Tà Cơn-đường 9 (Quảng Trị), Chế Lan Viên gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương[1].

Năm 1954, Chế Lan Viên tập kết ra Bắc làm biên tập viên báo Văn học. Từ năm 1956 đến năm 1958, ông công tác ở phòng văn nghệ, Ban tuyên huấn trung ương và đến cuối năm 1958 trở lại làm biên tập tuần báo Văn học (sau là báo Văn nghệ). Từ năm 1963 ông là ủy viên thường vụ Hội nhà văn Việt Nam, ủy viên ban thư ký Hội nhà văn Việt Nam. Ông cũng là đại biểu Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa các khóa IV, V và VI, ủy viên Ban văn hóa – giáo dục của quốc hội.

Sau 1975, ông vào sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông mất ngày 19 tháng 6 năm 1989 (tức ngày 16 tháng 5 năm Kỷ Tỵ) tại Bệnh viện Thống Nhất, thành phố Hồ Chí Minh, thọ 68 tuổi.

Sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Chế Lan Viên

Phong cách thơ Chế Lan Viên rất rõ nét và độc đáo. Thơ ông là sức mạnh trí tuệ được biểu hiện trong khuynh hướng suy tưởng – triết lý. “chất suy tưởng triết lý mang vẻ đẹp trí tuệ và sự đa dạng, phong phú của hình ảnh thơ được sáng tạo bởi một ngòi bút thông minh, tài hoa”[6] Khai thác triệt để các tương quan đối lập. Và nổi bật nhất là năng lực sáng tạo hình ảnh phong phú, độc đáo nhiều biểu tượng.

Là một nhà thơ của Quảng Trị. Thơ Chế Lan Viên phong phú về đề tài, đa dạng về chủ đề. Phong cách sáng tác của ông được chia làm hai giai đoạn rạch ròi: trước và sau chách mạng Tháng 8. Hai giai đoạn đối lập nhau về phong cách sáng tác. Nếu như trước cách mạng là những bài thơ chán đời, điêu tàn thì sau cách mạng lại là những bài thơ dạt dào sức sống.

Phong cách sáng tác của Chế Lan Viên trước Cách mạng Tháng 8

Trước Cách mạng tháng Tám, thơ Chế Lan Viên là một thế giới đúng nghĩa “trường thơ loạn”: “kinh dị, thần bí, bế tắc của thời “Điêu tàn“với xương, máu, sọ người, với những cảnh đổ nát, với tháp Chàm”. Những tháp Chàm “điêu tàn” là một nguồn cảm hứng lớn đáng chú ý của Chế Lan Viên. Qua những phế tích đổ nát và không kém phần kinh dị trong thơ Chế Lan Viên, ta thấy ẩn hiện hình bóng của một vương quốc hùng mạnh thời vàng son, cùng với nỗi niềm hoài cổ của nhà thơ.

Trong giai đoạn này, ông nổi tiếng với tập thơ “Điêu tàn’, gồm 37 bài thơ. Sau đây là một số bài thơ tiêu biểu trong tập thơ đó.

Cái sọ người

Này chiếc sọ người kia, mi hỡi!

Dưới làn xương mỏng mảnh của đầu mi

Mi nhớ gì, tưởng gì trong đêm tối?

Mi trông mong ao ước những điều chi?

Mi nhớ đến cảnh pháp trường ghê rợn

Sọ muôn người lần lượt đuổi nhau rơi?

Hay mi nhớ những đêm mờ rùng rợn

Hồn mi bay trong đốm lửa ma trơi?

Có tìm chăng, những chiều không tiếng gió

Của người mi thi thể rữa tan rồi?

Có tưởng lại mảnh hồn mi

Đang lạc loài trong Cõi Chết xa xôi?

Hỡi chiếc sọ, ta vô cùng rồ dại

Muốn riết mi trong sức mạnh tay ta!

Để những giọt máu đào còn đọng lại

Theo hồn ta, tuôn chảy những lời thơ

Ta muốn cắn mi ra từng mảnh nhỏ!

Muốn điên cuồng nuốt cả khối xương khô!

Để nếm lại cả một thời xưa cũ

Cả một dòng năm tháng đã trôi xa!

MỘNG

Ta vừa thấy bóng Nàng trên cỏ biếc

Suối tóc dài êm chảy giữa giòng trăng

Ta vừa nghe giọng sầu bi tha thiết

Của Chiêm nương gờn gợn sóng cung Hằng

Xem thêm:  Tuyển tập vần thơ nhớ người yêu hay nhất, lắng đọng cảm xúc

Mộng tàn rồi! Bóng người Chiêm nữ ấy

Biết tìm đâu, lòng hỡi, dưới trăng ngà!

Trên trời cao giòng Ngân kia lặng chảy

Thấy cùng chăng tha thiết bóng xiêm qua?

Ta lặng lẽ nhìn ra ngoài cửa Tháp

Cả đêm nay vì sao buồn man mác!

Ngàn lau vàng hoa trắng ngập bao la

Vẳng đâu đây, rùng rợn dưới trăng mờ

Tiếng xương người mạnh va sườn quách gỗ

Rùng rợn như… tiếng vỡ sọ dừa ta!

Điệu Nhạc Điên Cuồng

Hầu ran nóng, lửa hồng bừng cháy mắt

Máu hồng tươi lay vỡ cả thành tim

Ðâu điệu nhạc điên cuồng ta khao khát

Chẳng vang lên tràn ngập suối träng êm?

Ðem mau đây, chiếc sọ dừa ứ huyết

Chiếc xương khô rợn trắng khí tinh anh!

Và rót mau trong hồn ta tê liệt

Những nguồn mơ rồ dại, hỡi yêu tinh!

Ta sẽ nhịp khớp xương lên đỉnh sọ

Ta sẽ ca những giọng của Hồn Ðiên

Ðể máu cạn, hồn tàn, tim tan vỡ

Ðể trôi đi ngày tháng nặng ưu phiền!

Ðể hưởng lấy một giờ không tục lụy

Ðể uống vào một phút chết say sưa!

– Nhạc trần gian khôn vui hồn quạnh quẽ

Rượu trần gian gây nhớ vết thương xưa

Những Sợi Tơ Lòng

Tôi không muốn đất trời xoay chuyển nữa

Với tháng ngày biền biệt đuổi nhau trôi

Xuân đừng về! Hè đừng gieo ánh lửa!

Thu thôi sang! Ðông thôi lại não lòng tôi!

Quả đất chuyển giây lòng tôi rung động

Nỗi sầu tư nhuần thấm cõi Hư Vô!

Tháng ngày qua, gạch Chàm đua nhau rụng

Tháp Chàm đua nhau đổ dưới trăng mờ!

Lửa hè đến! Nỗi căm hờn vang dậy!

Gió thu sang thấu lạnh cả hồn thơ!

Chiều đông tàn, như mai xuân lộng lẫy

Chỉ nói thêm sầu khổ với ưu tư!

Tạo hoá hỡi! Hãy trả tôi về Chiêm quốc!

Hãy đem tôi xa lánh cõi trần gian!

Muôn cảnh đời chỉ làm tôi chướng mắt!

Muôn vui tươi nhắc mãi vẻ điêu tàn!

Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh

Một vì sao trơ trọi cuối trời xa!

Ðể nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh

Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo!

Mồ Không

Và xương khô, và sọ dừa, và thịt nát

Và hơi âm rờn rợn của yêu tinh

Loài người đã mang đi qua mộ khác

Để lòng ta trống trải khí thiêng linh

Thôi vắng bặt từ nay bao giây phút

Mà tiếng cười ghê rợn dậy vang mồ!

Mà hơi khóc rung dài giây gió lướt

Mà thời gian náo động cõi Hư Vô!

Hồn ma ơi! Hồn ma ơi! có nhớ

Nơi mi hằng chôn gửi hận Trần Gian?

Nơi đã khô của mi bao máu đỏ

Bao tủy nồng, nào trắng với xương tàn?

Mi có biết rồi đây trong những buổi

Mà sao sa rung chuyển đáy mồ không

Mà nắng chếch huyệt sâu um cỏ dại

Ta buồn thương, nhớ tiếc, với trông mong?

Hồn ma ơi! Trong những đêm u tối

Mi tung mây về chân trời vòi vọi

Hãy mau nghiêng cánh lại ở bên mồ

Phủ lòng ta say đắm chút hương mơ!

Lời của mồ không:

Ở đâu rồi, người nhớ mong yêu tưởng

Mà phách hồn vừa ôm ấp trong tay?

Quá xa xôi phút giây chan chứa mộng!

Vỡ tan rồi! cốc rượu ứa hơi say!

Nàng hỡi Nàng! trên tay ta là mộ trống

Trong lòng ta là huyệt bỏ, với trong hồn

Là mồ không lạnh lùng sương giá đọng

Toàn khổ đau, sầu não với lo buồn!

Hãy cho ta lúc vui trên tay khác

Một chút Thương an ủi tấm lòng đau

Như hồn ma, trong khi về mộ khác

Còn đôi hồi dừng cánh viếng mồ sâu

Tạo Lập

Trời hỡi trời! Hôm nay ta chán hết

Những sắc màu hình ảnh của Trần Gian!

Thịt bại rồi, nhãn quan đà lả mệt

Thú điên cuồng ao ước vẫn khôn ngăn!

Ta nhắm mắt mặc yên cho Hiện Tại

Biến dần ra Dĩ Vãng ở trên mi

Thay đổi rồi vẫn còn thay đổi mãi

Không gian kia còn lúc chuyển thiên đi!

Nhắm mắt lại cho cả bầu bóng tối

Mênh mang lên, bát ngát tựa đêm sâu

Cho hồn phách say sưa trong giả dối

Về cõi âm chờ đợi những bao lâu

Cho từng sóng quỷ ma dần hiển hiện

Cho lời kêu, tiếng rú bật vang tai

Cho lăn lóc, hôn mê trong Ảo Huyễn

Lãng quên đi giây phút cảnh trần ai!

Cho hồn ta vụt bay lên vời vợi

Trong bóng đêm u ám của hàng mi

Kiêu ngạo rằng: “Đây là bầu thế giới

Tạo lập ra trong một phút sầu bi”

Đám Ma

Dưới hàng tre cao gieo làn bóng mảnh

Ánh đuốc mờ nhợt nhạt lạnh lùng soi

Chiếc hòm con êm đi trong sương lạnh

Người mẹ già nức nở lên đôi hồi

Ta lặng lẽ nhìn muôn sao tự hỏi

– Mảnh hồn ta tiêu diệt tự bao giờ?

Mà trong chiếc hòm con kia u tối

Có phải chăng thi thể của người ta?

Văng vẳng nghe trong không giới bao la

Một vì sao êm gieo lời đáp lại!

Tắm Trăng

Ta cởi truồng ra! Ta cởi truồng ra!

Ngoài kia trăng sáng chảy bao la

Ta nhảy vào quay cuồng thôi lăn lộn

Thôi ngụp lặn trong ánh vàng hỗn độn

Cho trăng ghì, trăng riết cả làn da

Ai cởi dùm ta? Ai lột dùm ta?

Chưa lõa lồ thịt còn nằm trong da!

Chưa trần truồng óc còn say trong ý!

Trăng chưa lấp đầy xương, chưa ngấm tủy

Hồn vẫn còn chưa uống hết hương hoa

Tôi là kết tinh của ánh trăng trong

Sao không cho tôi đến chốn Hư Không?

Tôi muốn ngồi, trăng cứ đè tôi xuống!

Khát lắm rồi! Hãy mau cho tôi uống!

Cho nguôi đi nhớ tiếc với trông mong!

Đã hết trăng rồi! Đã hết trăng rồi!

Không! Không đâu! Trên những đảo mây trôi

Vừa dâm dục ôm trăng vờ vật ngủ

Còn rất nhiều những suối vàng rực rỡ

Múc ào đi, trút cả xuống hầu tôi!

Phong cách sáng tác của Chế Lan Viên sau Cách mạng Tháng 8

Sau Cách mạng tháng Tám, thơ ông đã “đến với cuộc sống nhân dân và đất nước, thấm nhuần ánh sáng của cách mạng”, và có những thay đổi rõ rệt. Trong thời kì 1960-1975, thơ Chế Lan Viên vươn tới khuynh hướng sử thi hào hùng, chất chính luận, đậm tính thời sự. Sau năm 1975, “thơ Chế Lan Viên dần đời sống thế sự và những trăn trở của cái “tôi” trong sự phức tạp, đa diện và vĩnh hằng của đời sống”.

Xem thêm:  Chùm thơ Thái Bình quê tôi với vẻ đẹp, tình yêu & nỗi nhớ

Sau cách mạng, ông hòa vào nhân dân, hòa vào cách mạng nên ông viết nhiều hơn, tiêu biểu các tập thơ như: “Gửi các anh”(1954), gồm 13 bài thơ;”ánh sáng và phù sa”(1960), gồm 70 bài thơ;”Chim bão bão”(1967), gồm 49 bài thơ;”Đối thoại mới”(1973), gồm 64 bài thơ,”Dải đất vùng trơi”….và nhiều tập thơ khác. Sau đây là một số bài thơ tiêu biểu rút ra từ các tập thơ đó.

Tiếng Hát Con Tàu

Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc

Khi lòng ta đã hoá những con tàu

Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát

Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu

Con tàu này lên Tây Bắc, anh đi chăng?

Bạn bè đi xa, anh giữ trời Hà Nội

Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi

Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng

Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp

Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?

Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép

Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia

Trên Tây Bắc! Ôi mười năm Tây Bắc

Xứ rừng núi đã anh hùng

Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất

Nay rạt rào đã chín trái đầu xuân

Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa

Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường

Con đã đi nhưng con cần vượt nữa

Cho con về gặp lại mẹ yêu thương

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa

Con nhớ anh con, người anh du kích

Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn

Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách

Đêm anh cởi lại cho con

Con nhớ em con, thằng em liên lạc

Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ

Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc

Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư

Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc

Năm con đau, mế thức một mùa dài

Con với mế không phải hòn máu cắt

Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi

Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ

Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương?

Khi ta ở, chi là nơi đất ở

Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn!

Anh bỗng nhớ em như nhớ rét

Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng

Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương

Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch

Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng

Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch

Bữa xôi đầu còn toả nhớ mùi hương

Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi?

Tình em đang mong, tình mẹ đang chờ

Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội

Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga

Mắt ta nhớ mặt người, tai ta nhớ tiếng

Mùa nhân dân giăng lúa chín rì rào

Rẽ người mà đi, vịn tay mà đến

Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao

Nhựa nóng mười năm nhân dân máu đổ

Tây Bắc ơi, ngươi là mẹ của hồn thơ

Mười năm chiến tranh, vàng ta đau trong lửa

Nay trở về, ta lấy lại vàng ta

Lấy cả những cơn mơ! Ai bảo con tàu không mộng tưởng?

Mỗi không uống một vầng trăng

Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống

Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân

Người Đi Tìm Hình Của Nước

Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi

Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác

Khi bờ bãi dần lui làng xóm khuất

Bốn phía nhìn không một bóng hàng tre

Đêm xa nước đầu tiên, ai nỡ ngủ

Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương

Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở

Xa nước rồi, càng hiểu nước đau thương

Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp

Giấc mơ con đè nát cuộc đời con

Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp

Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn

Trăm cơn mơ không chống nổi một đêm dày

Ta lại mặc cho mưa tuôn và gió thổi

Lòng ta thành con rối

Cho cuộc đời giật dây

Quanh hồ Gươm không ai bàn chuyện vua Lê

Lòng ta đã thành rêu phong chuyện cũ

Hiểu sao hết những tấm lòng lãnh tụ

Tìm đường đi cho dân tộc theo đi

Hiểu sao hết “Người đi tìm hình của Nước”

Không phải hình một bài thơ đá tạc nên người

Một góc quê hương nửa đời quen thuộc

Hay một đấng vô hình sương khói xa xôi

Mà hình đất nước hoặc còn hoặc mất

Sắc vàng nghìn xưa, sắc đỏ tương lai

Thế đi đứng của toàn dân tộc

Một cách vin hoa cho hai mươi lăm triệu con người

Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba Lê

Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá

Và sương mù thành Luân Đôn, ngươi có nhớ

Giọt mồ hôi Người nhỏ giữa đêm khuya?

Đời bồi tàu lênh đênh theo sóng bể

Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mỹ, châu Phi

Những đất tự do, những trời nô lệ

Những con đường cách mạng đang tìm đi

Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước

Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà

Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc

Chẳng yên lòng khi ngắm một

Ngày mai dân ta sẽ sống sao đây?

Sông Hồng chảy về đâu? Và lịch sử?

Bao giờ dải Trường Sơn bừng giấc ngủ

Cánh tay thần Phù Đổng sẽ vươn mây?

Rồi cờ sẽ ra sao? Tiếng hát sẽ ra sao?

Nụ cười sẽ ra sao?

Ơi, độc lập!

Xanh biết mấy là trời xanh Tổ quốc

Khi tự do về chói ở trên đầu

Kìa mặt trời Nga bừng chói ở phương Đông

Cây cay đắng đã ra mùa quả ngọt

Người cay đắng đã chia phần hạnh phúc

Sao vàng bay theo liềm búa công nông

Luận cương đến Bác Hồ. Và Người đã khóc

Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin

Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp

Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin

Xem thêm:  Trái tình xưa - Kim Chi

Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc

“Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”

Hình của Đảng lồng trong hình của Nước

Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười

Bác thấy:

dân ta bưng bát cơm mồ hôi nước mắt

Ruộng theo trâu về lại với người cày

Mỏ thiếc, hầm than, rừng vàng, bể bạc

Không còn người bỏ xác bên đường ray

Giặc nước đuổi xong rồi. Trời xanh thành tiếng hát

Điện theo trăng vào phòng ngủ công nhân

Những kẻ quê mùa đã thành trí thức

Tăm tối cần lao nay hoá những anh hùng

Nước Việt Nam nghìn năm Đinh Lý Trần Lê

Thành nước Việt nhân dân trong mát suối

Mái rạ nghìn năm hồng thay sắc ngói

Những đời thường cũng có bóng hoa che

Ôi! Đường đến với Lênin là đường về Tổ quốc…

Tuyết Mat-xcơ-va sáng ấy lạnh trăm lần

Trong tuyết trắng như đọng nhiều nước mắt

Lênin mất rồi. Nhưng Bác chẳng dừng chân

Luận cương của Lênin theo Người về quê Việt

Biên giới còn xa. Nhưng Bác thấy đã đến rồi

Kìa, bóng Bác đang hôn lên hòn đất

trong màu hồng, hình đất nước phôi thai

Trường Sơn

Những ngày Trường Sơn

Cao đèo thẳm suối

Hút đường quạnh lối

Rừng dài núi mỏi

Xanh con mắt rờn

Tiếng ve dắng dỏi

Trăng rừng chon von

Ve dài như núi

Trăng đi mặt mòn

Mặt người mặt trăng

Tiếng cười bóng lửa

Hắt hiu gió khói

Lạnh hơi đồng bằng…

Ba lô cắn vai

Gạo đau khoanh dài

Đá chởm tai mèo

Tay chùn thang leo

Miếng ngon cơm muối

Bát canh rau rừng

Tàu bay, lá dền

Chuối hoang, cành mưng…

Chập chờn giấc muỗi

Sốt dài trạm tối

Sốt mòn tiếng rên

Mồ hôi nắng xối

Liên U, Ba Rền

Mưa dài đường sên…

Thương anh dân công

Mặt veo sắc hồng

Máu vàng kí ninh…

Núi đá vách đứng

Gánh bom gập người

Đường dài đứt hơi…

Ríu kêu thuốc lào

Uống ngon nước suối

Tay vung hòn đá

Khen đời vẫn tươi…

Thương anh bộ đội

Dạn dày lính cũ

Ngỡ ngàng tân binh

Ai Thanh Nghệ Tĩnh

Ai Thiên Trị Bình

Tre làng khuất bóng

Quê nhà viễn vọng

Vây đường núi quanh

Chận đường núi xanh

Trạm tối lửa hát

Chuyện rang ngô giòn

Mơ ngày trận mạc

Xoe đôi mắt tròn

Chớp đôi mắt lành

Tay thoa thép súng

Mộng ngày về thôn…

Thoi nắng, thoi sương

Liên lạc xuyên rừng

Công văn, thư báo

Rì rầm nhịp máu

Mạch ngàn giao thông

Ới anh cán bộ

Tình dân cháy lòng

Mắt xa đoàn thể

Sáng trưng đèn chong

Cha già ngóng trông

Đồng bào ngóng mong

Tình riêng rách xé

Nỗi lo chất chồng…

Nhớ sao đồng bằng

Trăng thơm cơm mới

Vàng mùa chiều trải

Đỏ nhà màu ngói

Chói tươi sắc cờ

Nhớ sao tình dân

Đường ra lối vào…

Rậm làng ầm xóm

Quần chúng quen thân

Tiếng cười bóng nón

Ấm hơi đồng bào…

Biển người sóng vỗ

Tình người sóng xao

Đồng bằng nhớ ơi

Mặt người nhớ sao

***

Bao giờ đất đỏ máu thù

Tan hoang đồn giặc ta thu lại đường

Ai đi quốc lộ thênh thang

Nhớ ai chân đã dặm ngàn Trường Sơn

(1952)

Những Đồng Chí Chúng Ta

Những đồng chí chúng ta

Ở ngoài muôn dặm thẳm

Dù trong hay ngoài Đảng

Mang tấm lòng cộng sản

Trong nước sôi và lửa nóng

Vẫn hướng về chúng ta…

Anh là đồng chí Trung Hoa

Buổi chiều qua sông Áp Lục

Đoàn dã chiến hành quân lên mặt Bắc

Gió lạnh tiếp sương dày

Lắm núi và nhiều mây

Vẫn tưởng đi về chiến trường miền Nam đất Việt

Ở đó đồng chí anh đang đổ huyết…

Anh là đồng chí đất Triều

Nửa đêm mưa tuyết lạnh

Run người nhai mẩu bánh

Chờ khuya sâu xung kích trại thù

Nhớ Kim tướng quân vã tưởng đến Bác Hồ

Trong thẳm tối mọc mặt trời ấm nóng

Giải phóng Triều Tiên! Việt Nam giải phóng…

Anh bỗng lao lên như thác vỡ bờ…

Thác máu anh hùng đỏ rực như hoa…

Những đồng chí chúng ta trên đất Pháp

Đời gian lao trong than khói máy dầu

Đời lầm than trong bến tàu

Vợ đói con ốm đau

Mùa đông dài thiếu than và thiếu bánh

Ôi tấm lòng công nhân như điện mạnh

Các anh xông bão táp đi biểu tình…

Đả đảo chiến tranh

Ủng hộ Hồ Chí Minh…

Tiếng hô các anh dài vang trong gió rét

Tôi tưởng nghe trên chiến trường đất Việt…

Những đồng chí Liên Xô

Xưởng thợ hay đồng nho…

Các anh vừa ra khỏi máu

Vẫn bừng bừng chiến đấu

Cho Triều Tiên Việt Nam

Đổ mồ hôi trên máy, tăng giờ làm

Tiếp sức sống cho những miền khói lửa…

Mắt các anh là vì sao đỏ…

Trong đêm chúng tôi, chói dọi huy hoàng…

Những đồng chí chúng ta

Cần lao, chiến đấu

Trong mặt trời trong lửa máu

Mang cách mạng trong người

Như chiến sĩ mang bộc lôi

Nổ vỡ thành trì quân giặc

Đồng chí chúng ta cốt sắt

Da trắng với da đen

Da đỏ với da vàng

Vẫn quay mặt về hướng Việt

Các anh hướng về chúng tôi

Các anh thổi những trận gió dài

Vào ngọn lửa chúng tôi bừng chiến đấu…

Chúng tôi gió, có các anh thành bão

Là cây, bỗng dậy nên rừng

Là công nông, nay là những anh hùng

Chúng tôi có Đảng

Có quốc tề chói ngời bao la biển sáng

Có Liên Xô dũng cảm

Có các anh

Ta lên đỉnh cuộc đời

Lên, đi lên

Ta chiếm cả mặt trời

Mang chủ nghĩa Mác, Lê-nin đi chiến thắng

(1952)

Chế Lan Viên là nhà thơ luôn có sự tìm tòi, khám phá và sáng tạo. Ông luôn biết kế thừa, phát huy những tinh hoa của nền văn chương và nhân loại để mang lại cho tác phẩm của mình một vẻ đẹp riêng. Ông có sự nhận thức sâu sắc về chức năng của văn chương và sứ mệnh thiêng liêng của người nghệ sĩ đối với cuộc sống.Ông không những là một nhà thơ lớn mà còn là một nhà văn, nhà phê bình văn học lỗi lạc.Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết này của chúng tôi nhé!

Theo Thuvientho.com

Check Also

nhung bai tho ngan hay ve hoa dac sac nhat 310x165 - Những bài thơ ngắn hay về hoa đặc sắc nhất

Những bài thơ ngắn hay về hoa đặc sắc nhất

Trong thế giới tự nhiên có muôn vàn loài hoa khác nhau. Mỗi loài hoa …