Home / Chùm thơ chọn lọc / Nhà Thơ Bảo Định Giang Và Sự Nghiệp Thơ Ca Của Ông

Nhà Thơ Bảo Định Giang Và Sự Nghiệp Thơ Ca Của Ông

Nhà Thơ Bảo Định Giang Và Sự Nghiệp Thơ Ca Của Ông

Nhà thơ Bảo Định Giang sinh năm 1919, tại Mỹ Thiện, Cái Bè – Tiền Giang, ông là một nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học, Trưởng Ban Tuyên truyền Bộ Tư lệnh Nam Bộ, Phó Giám đốc Phân sở Thông tin miền Ðông Nam Bộ, Trưởng phòng Văn nghệ Ðài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam, Phó Vụ trưởng Vụ miền Nam và Phó Vụ trưởng Vụ Văn nghệ Ban Tuyên huấn T.Ư… với việc đảm nhận nhiều chức danh, đủ để chúng ta hiểu tài năng và ý chí của nhà thơ.

Ông còn có các bút danh khác như: Nguyễn Thanh, Thu Thuỷ, Văn Kỹ Thanh, Nguyễn Tịnh Hà. Ngoài sáng tác thơ ông còn tham gia viết truyện ngắn, tiểu thuyết.

Tác phẩm nổi bật của nhà thơ Bảo Định Giang

Nhà thơ Bảo Định Giang, đã xuất bản trên 30 tác phẩm gồm ca dao, thơ, kịch bản, nghiên cứu phê bình, gồm:

  • Đường giải phóng (thơ, 1977)
  • Đêm huyền diệu (thơ, 1985); Sen đồng (thơ, 1990)
  • Ca dao Bảo Định Giang (1990)
  • Đảng – lời nguyền (thơ, 1991)
  • Trong mỗi trái tim (thơ, 1993)
  • Thuyền chở đạo (thơ, 1994)
  • Hả dạ (kịch, 1949)
  • Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga (kịch bản phim, 1990)
  • Thơ, văn yêu nước Nam Bộ nửa cuối thế kỷ XIX (nghiên cứu, 1962)
  • Những ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX (nghiên cứu, 1990)
  • Văn nghệ – một thời để nhớ (sưu tầp, 1996)

Ông đạt Giải thưởng uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam cho tác phẩm Trong mỗi trái tim.

Mây trắng bến Nhà Rồng

Thắm một sắc cờ hoa phượng nở

Xanh trời cao vút những thân sao

Nắng vàng trải mỏng dài theo phố

Tường ánh màu vôi mới trắng phau.

Thành phố tên Người đẹp tháng năm

Đường ken xe đạp buổi đi làm

Rợp tàn vú sữa sân nhà trẻ

Các cháu vui đùa dưới bóng râm.

Chóng lớn “Cháu ngoan của Bác Hồ!”

Tình thương dồn cả tuổi măng tơ

Một sương, hai nắng lòng cô bác

Chăm chút mầm non hẹn tốt mùa

Hạt giống người gieo nay chín rộ

Hai mùa kháng chiến khép thành thơ

Mồ hôi, máu đổ không chùn bước

Triệu đoá hoa xuân nở dưới cờ!

Được thở tự do dẫu một ngày

Tình người ấm lại chất men say

Trăm năm thoát khỏi đời nô lệ

Lưỡi vẫn còn tê vị đắng cay!

Muôn dặm bồng bềnh thủa Bác đi

Bồi tàu, rửa ảnh chẳng hề chi

Trời Âu quét tuyết đêm băng giá

Tim đỏ Lênin sáng lối về.

Cháo bẹ, rau măng rừng Pắc Bó

Gió lồng hang đá ngọn đèn khuya

Non sông ngàn dặm sao trời tỏ

Thế giới năm Châu đẹp bạn bè.

Chỉ nặng mỗi lòng tham tột bậc:

Người người áo ấm với cơm no

Con em đến tuổi học

Đất nước muôn đời được tự do

Bốn phương vô sản anh em cả

Muôn dặm quan san vốn một nhà

Mặt đất, thiên đường vui được nữa

“Đường lên hạnh phúc” cuối trời xa.

Tiếng sủa bên đường vẫn sáng trăng

Đường ta bay vỗ cánh chim bằng

Mác – Lênin đời xanh mầm sống

Rơi rụng bao nhiêu sắc úa vàng

Di chúc mỗi dòng rỏ máu tim

Muôn vàn thân ái gửi trăm miền

Mặc cơn đau buốt tình non nước

Hơi thở còn không phút lãng quên.

Thanh thản ra về nơi cõi thọ

Một toà đồ sộ Mác – Lênin

Xanh trong hồ ngọc, thơm lan, huệ

Cao cả cho đời một đức tin.

Bóng tối đã lùi tận góc xa

Tháng năm sao mọc sáng muôn nhà

Bồi hồi bến cũ về thăm lại

Mây trắng Nhà Rồng nhớ Bác xưa.

Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1999

Một ngày xa bến

Dù cho sóng vỗ bềnh bồng

Không đi không được dục lòng phải đi

Dù thân trải bước gian nguy

Thương đời dân chúng, xót vì nước non.

Cháy lòng – một trái tim son

Biển đông tát cạn, nỗi buồn chẳng vơi.

Ra đi chẳng đợi ai mời

Ngày về thầm hẹn – phương trời tuyết sương

Nhớ dừa dáng đứng quê hương

Một vườn cau nhỏ để thương vạn ngày.

Sáng lòng, vận nước cơ may

Mở trang sử mới từ giây phút nầy.

Núi cao, biển rộng – ơn Người

Một ngày xa bến ngàn đời ở hoa.

Đường giải phóng (1977)

Tập thơ: Đường giải phóng (1977)

Bài ca du kích

I. Du kích sông Long Tàu

(Tặng Bảng, đặc công đánh Nhà Bè, người gốc Quảng Bình)

Lạnh tái tê người vẫn bám sông

Thương hàng vẹt rũ mấy mùa đông

Đánh tan tàu giặc ngăn đôi ngả

Cho Bắc – Nam đi lại thuận dòng!

II. Du kích U Minh

Sống chể giữ nghề đi bứt choại

Buồn vui gắn bó với quê mình

Đói lòng đọt choại ăn qua bữa

Trói giặc sẵn nhiều dây choại xanh.

III. Nữ du kích sông Mao

Đẹp mặt rừng xanh một đoá hồng

Nhìn trong ánh mắt có non sông

Tay mềm bóp nát rào gai sắt

Đồn bốt quân thù có hoá không.

Vàm Cỏ Đông, 12-1969

Bài học chiến trường

(Tặng các bạn học sinh ở thành phố tòng quân)

Anh trước là anh trai của học đường

Là người chỉ biết có văn chương

Ba năm chinh chiến giờ anh hẳn

Là bạn thân yêu của chiến trường!

Tất cả ngày xưa đã đổi thay

Tâm hồn phơi phới gió ban mai

Sách đời anh giở sang trương mới

Đường khó anh qua mấy dặm dài

Nắng mưa sớm chiều vẫn thản nhiên

Đói cơm rách áo chẳng ưu phiền

Chiến trường đã dạy anh bền chí

Gian khổ coi thương vững bước lên!

Đêm lạnh chung nhau một mảnh chăn

Lưng cơm cam đói sớt hai phần

Chiến trường đã dạy anh thân ái

Yêu bạn khác nào yêu bản thân!

Thịt nát xương tan máu thắm rơi

Giữa làn mưa đạn chẳng hề lui

Chiến trường đã dạy anh gan góc,

Quyết một liều thân cứu giống nòi!

Muôn một sa vào lưới địch quân

Khảo tra chết ngất mấy mươi lần

Chiến trường đã dạy anh trung liệt

Chôn kín tâm tình chẳng hé răng!

Giặc giấu mưu sâu giả hậu tình

Đem tiền đem chức đến mua anh

Chiến trường đã dạy anh liêm sỉ

Thà đói nghèo hơn hậu thế khinh!

Những lúc nghịch thường thế trận xoay

Địch nhiều ta ít giữa trùng vây

Chiến trường đã dạy anh trầm tĩnh

Không chút cuống cuồng lúc biết nguy!

Xáp trận bao lần thắng liệt oanh

Muôn người ca ngợi chiến công anh

Chiến trường đã dạy anh

Vì nước, không vì mớ hão danh!

Quân địch hạ cờ xuống nước thua

Đưa tay xin sống chuỗi ngày thừa

Chiến trường đã dạy anh tha thứ

Mở rộng lòng thương kẻ thất cơ!

Đồng Tháp Mười, 1948

Bên những nghĩa sĩ Cần Giuộc vô danh

Cha mẹ nghèo như quê ta nghèo lắm

Nhưng để cho ta một tấm lòng.

(Nguyễn Thái Bình)

Như thuở ấu thơ mẹ hát ru anh

Anh trở cũ – nơi sinh

Sông Cần Giuộc trưa hè gió mát

Hôm nay anh lại ngủ yên lành.

“Cha mẹ nghèo như quê ta nghèo lắm”

Nhưng đâu liệt oanh như mảnh đất này

Trăm năm trước cha ông đuổi giặc

Gậy tầm vông “một trận nghĩa đánh Tây”

“Cha mẹ nghèo như quê ta nghèo lắm”

Nhưng đâu sạch thơm như mảnh đất này

Lòng nhân nghĩa cháu con vẹn giữ

Hồn bâng khuâng “ngọn cỏ, tán cây”.

Máy bay cất cánh bay về đâu?

Tàu chiến nhổ neo đến bến nào?

Bom đạn… quê nhà đang chảy máu

Trái tim nhức nhối những đêm sâu.

Từ Niu-Oóc đến Oa-sinh-ton

Bình minh đâu, đây chỉ hoàng hôn

Tầng cao Nhà Trắng, Lầu Năm góc

Khắp mọi nơi quỷ khóc, ma hờn.

Xem thêm:  Nét Huế thương - Lê Hoàng

“Dậy mà đi” hỡi thanh niên Mỹ

Xuống đường ta hỏi tội chúng vì sao?

– Ních-xơn! Mày đã chọn nhầm thế kỷ

Chính nơi đây đã sẵn chiến hào.

Ních-xơn mày là tên ghê tởm nhất

Máu đầy tay, không thể bắt tay mày

Gái đẹp, nhà sang, danh vọng, tiền tài

Đừng tưởng chìa ra mày sẽ mua được tất

Không! Có những Lương tâm

Chẳng bao giờ chịu nhục

Như thuở ấu thơ mẹ hát ru anh

Anh trở về quê cũ – nơi sinh

Hàng dừa nước thì thầm kẽ lá

Anh nằm bên những nghĩa sĩ vô danh.

(27-7-1972)

Cánh đồng quê tôi

Khi nghe tin quân ta dọn sạch chi khu

Ngã Sáu và nhiều đồn bốt khác ở trung

(Tâm Đồng Tháp Mười)

Mỹ Nguỵ tan rồi là sự sống

Cá tôm đầy lọp lúa xanh đồng

Đời vui cảnh vật nhân đôi cả

Mây đẹp trời xa – hoa mặt sóng.

Hà Nội, 4-1975

Chị ơi chị

(Tưởng nhớ chị Nguyễn Thị Minh Khai, người nữ đảng viên cộng sản quang vinh, đã hy sinh năm 1941, trước máy chém của đế quốc Pháp, sau khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại)

Đêm về trong gió lạnh

Nghe hát khúc (mùa đông)

Sực nhớ ra năm trước

Đây mùa tang tóc chung

Mẹ hiền là Tổ quốc

Mẹ khổ, con long đong

Thân con là giọt nước

Ơn mẹ bể mênh mông.

Chị ơi em nhớ chị

Sắt son giữ một lòng

Đem chết đền ơn nước

Cách mạng sẽ thành công!

Nhà giam bao khổn nhục

Kìm kẹp nhẹ như không

Chị cười trong lạnh nhạt

Điềm nhiên chẳng hãi hùng.

Chịu khổ một thân chị

Cho đời vui sướng chung

Chị khơi nguồn tin tưởng

Thất bại mẹ thành công!

Qua ngày dài u ám

Qua đêm tối mịt mùng

Chị ơi về đây chị

Non sông đã rạng hồng!

Mỹ Tho, 10-1945

Chiếc gậy mây

(Gửi anh em nghệ sĩ miền Nam thân yêu)

Tiễn bạn đường xa tặng gậy mây

Ta về mang nặng mối tình ai…

Tay nâng chiếc gậy từ tay bạn

Lòng những nhớ lòng, tay nhớ tay!

Bạn với ta rày đã cách xa

Đêm nằm vắng bạn gậy bên ta

Ta đi có gậy theo từng bước

Đèo núi dù cao mấy cũng qua!

Chiếc gậy bên ta những tháng năm

Sinh từ lòng đất mẹ ta nằm…

Hướng về quê cũ không nguôi nhớ

Gió núi trăng rừng nghe thấy chăng?

Mảnh đất sinh ta tự những ngày…

Nặc mùi chất độc lẫn hơi cay

Rừng xưa vẫn giữ màu hoa lá

Che mát đầu ta những bóng cây!

Chiếc gậy bên ta mỗi chữ lên

In sâu , thuở nào quên

Vắt cơm xẻ nửa, chăn chung đắp

Ta nhớ thương ai lấy gậy nhìn!

Lưu luyến đưa nhau, dặn mấy lần

Cố đi lên nhé! Khẻo đôi chân!

Ta đi… như cánh chim đầu núi

Chiếc gậy bạn cho: chiếc gậy thần!

Quảng Bình, 22-12-1970

Chợ Cái Mít

Không tiếng chó sủa, không bóng người qua

Đoàn người đi lặng lẽ, ánh trăng tà

Bước nối bước nhìn những nhà bị đốt;

Hơn trăm nhà nay chỉ còn máy cột

Đứng lẻ loi đen xạm giữa trời xanh

Những tường cao vôi gạch đổ tan tành

Trong vôi gạch lửa còn âm ỉ cháy!

Anh liên lạc giọng ngậm ngùi kể lại:

(Đây anh! Chợ Cái Mít mới hôm nào

Người ta vào tấp nập cảnh vui sao

Giờ đã hoá bãi tha ma thiên cổ!

Anh biết không, Tây nó vào ngay chợ

Bắn giết người và tàn phá sạch trơn

Các mẹ già gối mỏi khuỵu hai chân

Bị Tây bắn quăng thây vào lửa cháy!

Mấy em bé lạc loài không kịp chạy

Chúng chặt đầu những tám đứa anh ơi!

Anh thấy không trên một tháng nay rồi

Lửa chưa tắt (như lòng chưa nguôi giận)

Vạn giạ lúa phút giây thành tro xám

Bao mồ hôi nước mắt của dân ta…)

Bay nghe chăng lũ quỹ thực dân kia!

Bay quen uống quen ăn trên thịt máu

Vô nhân đạo!Loài bay vô nhân đạo!

Đồng bào ta đau đớn đã nhiều rồi

Biết bao người dù kiệt sức cùng hơi

Vẫn bước tới, lao nhìn trong máu lửa

Đừng hòng nữa, còn chi mong muốn nữa

Quyết phen này đánh đuổi giặc xâm lăng

Không cho bay thực hiện mộng tham tàn!

Chợ Cái Mít qua những ngày cay đắng

Sẽ vui tươi và đầm ấm ngày mai!

Chợ Cái mít, Bến Tre, 1947

Chờ đón nhau

(Kính tặng các bạn chí nguyện quan đi tác chiến một chiến trường xa nước)

Làm trai cho đáng danh trai

Xông pha muôn dặm ra ngoài chốn xa.

Trăng liềm đêm tối mồng ba

Như con mắt liếc nẻo xa muôn trùng!

Người đi hăm hở ruổi dong

Càng xa càng nặng nỗi lòng cố hương

Người về muôn nhớ nghìn thương

Tình này xin hãy tỏ tường mai sau…

Lòng kính dòng nước đục ngầu

Khuất rồi tôi vẫn trên cầu vẫy đưa

Yêu nhau nói mấy cho vừa

Vinh quang ngày ấy xin chờ đón nhau!

Sa Đéc, đêm mồng 3 âm lịch, tháng 4, 1949

Có nghe lòng ta ca

Kính chào Lát-vi-a

Ba nghìn năm trường thọ

Từng đắng cay đau khổ

Địa đồ bị xé ba

Trời trong mấy xám phủ

Biển lặng dạy phong ba

Lòng đất còn nghe giận

Nhớ xưa, thương ông bà!

Kính chào Ri-ga

Thủ đo bảy trăm tuổi

Dáng trẻ mãi không già

Hùm heo giày nét mặt

Đã đổi thịt thay da

Xuân về tươi nắng ấm

Mơn mởn lá li-pa

Bên mồ người yêu nước

Tháng bảy, nở ngàn hoa

Muôn năm hồn Tổ quốc!

Ngào ngạt hương bay xa.

Rừng thông gió sớm thổi

Đâu đấy giọng ngân nga

Ray-ni-xơ vĩ đại

Hồn thơ rộng bao la

Cây cao rợp bóng mát

Đồ sộ một ngôi nhà.

Ri-ga ôi Ri–ga!

Tình người sao thiết tha

Bồ câu đến lượm thóc

Trên tay ai nõn nà.

Từng đôi vào rạp hát

Áo đẹp dạo

Chiều nay khắp đường phố

Có nghe lòng ta ca!

Nhìn Đau-ga-va chảy

Nhớ Hiền Lương quê ta

Có cầu sao dừng lại

Gai góc lấp đường qua.

Đánh đuổi lang cút

Xoá sạch bóng yêu ma

Cho cây không chết héo

Cho người thôi xót xa

Cho chồng được hôn vợ

Cho con được gần cha

Cho ngày bừng ánh nắng

Cho đêm đẹp trăng ngà.

Ri-ga ôi Ri–ga!

Tình người sao thiết tha

Bồ câu đến lượm thóc

Trên tay ai nõn nà.

Từng đôi vào rạp hát

Áo đẹp dạo vườn hoa

Chiều nay khắp đường phố

Có nghe lòng ta ca!

Ri-ga, 30-5-1962

Sa Đéc, đêm mồng 3 âm lịch, tháng 4, 1949

Có những mùa xuân

Còn nhớ ngày xưa tôi đón xuân

Với lòng thơ bé tuổi lên năm

Chỉ ưa áo mới thèm quà bánh

Xác pháo thích nhìn rải đỏ sân.

Chiều ba mươi tết cha tôi viết

Liễn đỏ nghênh xuân dán khắp nhà

Sựo hết ngày vui tôi hỏi mẹ

Buồn nghe người đáp: (Đến mồng ba!).

Còn nhớ ngày xưa tôi đón xuân

Với lòng phơi phới tuổi mười lăm

Yêu mai có bướm bay về đậu

Tiếc nắng chiều xuân sẽ tắt dần.

Xuân đến ngày nay tôi đón xuân

Với lòng rạo rực tuổi công dân

Một ngày nghĩa nước chưa quên nợ

Chén rượu kề môi vẫn ngại ngần.

Tiếng pháo mừng xuân giữa ngày Tết nay

Sẽ là những loại súng vang tai

Đánh tan hồn phách quân xâm lược

Để được vui xuân giữa vạn người.

Hăng hái xông lên vệ quốc quân!

Ngày mai ta tặng quà Xuân:

Xóm thôn giải phóng vui ngày hội

Đất nước đẹp tươi, xoá vết hằn.

Ờ nhỉ ngày mai có thích không?

Khắp nơi ta dựng ngọn cờ hồng!

Cây nên ta đó trong ngày Tết

Thờ phụng chung nhau một tấm lòng!

Đồng Tháp Mười, Tết 1946

Cra-cốp

Hỡi con sông nhỏ lượn quanh cung điện Va-ven

Sao mà dễ thương quá vậy!

Nếu ai đem trồng cho tôi dăm bụi chuối và một hàng dừa ở ven bờ

Tôi có thể ở đó đỡ nhớ quê nhà hơn bất cứ một nơi nào khác trên đất nước Ba Lan.

Cra-cốp – cố đô hơn nghìn tuổi

Xin nghiêng mình chào Người!

Như chào những bậc cao niên mà tôi hằng kính trọng;

Nhìn mái tóc bạc phơ của những người từng trải ấy

Nhìn vầng trán nhăn của họ, ở đấy chứa đựng biết bao kinh nghiệm ở đời.

Tai và mắt họ đã từng nghe bao lần Tổ quốc buồn vui.

Cra-cốp!

Không ai dám bảo Người già nua

Không tin tội ư? Hãy nhìn:

Cặp mắt long lanh của người co ngái đang ngồi chơi ở vườn hoa kia

Và hãy xem dáng đi của từng tốp công nhân đầy vẻ tự háo, khi mỗi buổi sáng họ bước vào khu gang thép.

Xem thêm:  Đọc câu thơ của của mình - Vũ Tuyết Nhung

Rời lò thiêu người Ốt-sơ ven-sim trên đường về thành phố

Tôi bị ám ảnh nặng nề bởi hàng tấn tóc dệt thảm còn sót lại…

Lò Nu-va Hu-ta nhả khói làm cho hồn tôi – có cảm giác như đang trong địa ngục – được bay bổng;

Xin cảm ơn ai đó có mái tóc vàng rủ xuống đôi vành tai – như hai đoá hoa cài nửa kín nửa hở – đang dạo chơi trên vỉa hè chiều nay,

Chính những sợ tóc óng ánh như tơ ấy đã làm cho tôi vợi bớt nỗi đau xót khi phải chứng kiến lịch sử thê thảm của tóc dưới thời Hít-le.

Lửa trong lò Nu-va Hu-ta ban đêm loé lên đỏ rực

Hãy làm tăng hơn nữa nhiệt độ của lò cao!

Người công nhân không có gì vui hơn khi nhìn thấy mẻ gang chảy,

Trước công trình của họ làm, bây giờ -và cả mai sau -người ta khâm phục, không một ai bùi ngùi.

Này người bạn gái – đừng lo mất thì giờ của mái tóc,

Nhiều mái tóc đẹp càng làm đẹp cuộc đời

Đối với bọn xem tóc như lông thú hãy nguyền rủa chúng không tiếc lời.

Cra-cốp!

Xin tạm biệt Người!

Hỡi con sông nhỏ lượn quanh cung điện Va-ven

Sao mà trông dễ thương quá vậy!

Nếu ai đem trồng cho tôi dăm bụi chuối và một hàng dừa ở ven bờ

Tôi có thể ở đó đỡ nhớ quê nhà hơn bất cứ một nơi nào khác trên đất nước Ba Lan.

Cra-cốp, 4-1962

Dư đồ tổ quốc

Thức mãi đêm dài không chợp mắt

Năm canh tâm sự những mơ mòng

Dư đồ Tổ quốc ôi! Tha thiết

Đã mấy nghìn năm một núi sông.

Đây Hồ Hoàn Kiếm một thời xưa

Thành cũ Thăng Long ngọn Tháp Rùa

Dĩ vãng vẫn còn in dấu vết

Gươm thiêng một chiếc vững triều vua.

Sông nhị ai khơi dòng nước chảy

Núi Nùng ai đã nhọc công xây?

Cháu con dù có chia năm ngả

Cắt rốn chôn rau nhớ chốn này.

Một dải Hoành Sơn vững vạn đời

Đèo ngang bóng xế ánh vàng phai

“Dừng chân ngoảng lại trời non nước”

Tiếng cuốc nghìn xưa xé ruột ai…

Réo rắt dòng Hương giọng hữu tình

Đêm đêm còn nhớ điệu Nam Bình?

Tiếng chuông Thiên Mụ ngôi chùa cổ

Lay tỉnh hồn ai trống trở canh

Đỉnh ngự chiều hôm mây phủ trắng

Bâng khuâng thương tiếc một thời xuâ

Bảy mươi tư tuổi nghìn tâm sự:

“Thiên hạ hà nhân bất thức quân?”

Dòng nước Đồng Nai chảy lượn quanh

Ôm tròn làng xóm biết bao tình

Trăm năm “hào khí” thường quy tụ

Dưới dặng dừa xanh bóng mát xanh.

Nước quyện phù sa sông Cửu Long

Đôi bờ xanh mượt: lúa mênh mông

Vườn xoài rợp bóng quê ta đó

Một phút đời chân phút chạnh lòng.

Đây mũi cà mau mỏn đất xa

Khai hoang lập nghiệp nhớ người xưa

Quản bao nước mắt, mồ hôi đổ

(Mười cảnh hà Tiên) khéo điểm tô!

Nghìn dặm giang sơn vốn nước nhà

Bốn nghìn năm lẻ một ông cha

Bốn nghìn năm lẻ chung hồn nước

Biết mấy thương yêu, mấy đậm đà.

Nhìn mãi dư đồ mà thổn thứuc

MÀ thêm căm giận lúc tam tàn

Phen này dù chết ta cam chết

Thề vững vuông tròn đất Việt Nam!

Đã gặp em rồi

(Mến tặng thế hệ rất trẻ và rất anh dũng ở quê hương)

Trận gió nào đưa em tới đây?

Đôi vai hơi nhỏ, má hơi gầy

Hỡi em mười bảy – trai Đồng Tháp

Đã gặp em rồi! Đợi bấy nay…

Em lọt lòng ra giữa lửa bom

Cuộc đời kháng chiến dạy em khôn

Cua đồng, bông súng nuôi em lớn

Tiếng hát lòng em tiếng nước non.

Thương mẹ mỏi mòn trong ngục Pháp

Nhớ cha Mỹ bắn giữa đường cày

Tóc tang chồng chất, lòng thù hận

Nâng bổng em lên giữa cuộc đời.

Dòng kinh em tắm hồi thơ bé

Nền Tháp ngày ngày em đến chơi

Mấy liếp mãng cầu cha đắp gốc

Mồ hôi, máu đỏ thấm nơi nơi.

Nhớ em thường bữa anh thường nhắc:

Hồi ấy… em anh mới chín, mười

Nghịch súng thích làm “anh bộ đội”

Giờ đây em đã súng lên vai.

Tuổi xanh mát rợi hồn trong trắng

Lịch sử ngày nay chính của em

Chân dẫu còn non da rướm máu

Đạp bằng gai góc quyết đi lên.

Em là sen nở trên Đồng Tháp

Vạn đoá hồng tươi dậy sắc hè

Đời có em rồi, em đẹp lắm!

Quý em như quý mối tình quê.

Giữa lòng Hà Nội đêm không ngủ

Tháng Bảy nghe như nóng xé trời

Giấc mộng đêm qua còn giữ mãi

Trong lòng hình ảnh của em tôi!

Quảng Bá, Hà Nội, 7-1964

Đất nước vào xuân

Thủ đô ta muôn thuở tự hào thay

Xưa Đống Đa voi gầm, nay Ba Đình pháo nổ

Một trận ra oai quân thù cuốn vó

Đất nước vào xuân, trống giục cờ bay!

Chào Kôn Tum, Quảng Trị! Chào An Lộc, Bình Dương!

Chào từng góc phố! Chào mỗi con đường

Im triệu dấu chân những anh hùng cứu nước

Đưa ngọn cờ Hồ Chí Minh tiến ra phía trước!

“Nam – Bắc hai miền đều đánh giỏi”

Đêm hành quân thơm ngát mùi hoa

Từ Ngọc Hà toả ra trăm lối

Quyện bên ngườ năm tháng xông pha.

Một Bản Tuyên ngôn, một tờ Di Chúc:

“Đồng bào nghe rõ không?” sáng tỏ nghìn sau

“Quét sạch nó đi!” sấm sét dội đầu thù

Chiến công đầu là chiến công của Bác!

Trung ương ta, ta thường gọi rất yêu thân:

– Anh Cả, anh Ba, anh Năm, anh Sáu…

Bên Bác, các anh trọn đời chiến đấu,

Đảng ta ơi! Người đẹp tuyệt trần!

Từng đắng cay mới hay vị ngọt

Mùa đông tàn ấm giọt mưa xuân:

Đường dưới chân ta trải ra mát mẻ

Dọn sạch trông gai há dễ một lần!

Chưa dừng bước khi chưa toàn thắng

Đường còn dài không nài mưa nắng

Trận hôm nay nào phải sau cùng

Ma quỷ còn kia, trước mặt, sau lưng…

Trời hôm nay lất phất mưa bay

Nhớ thương ai da diết đêm dài

Miền Nam ơi! dù bom cây nát mặt

Trên thế gian Người xinh nhất ai tày!

Hà Nội, Xuân 1973

Đẹp mùa trăng

Đêm rằm làm đẹp Thủ đô

Hôm nay mười sáu trăng vô Sài Gòn.

Non sông một dải xanh rờn

Mai kia ta gặp trăng non nơi nào?

Đêm Cao Lạng, đêm Cà Mau

đất nước, ngọt ngào tình trăng.

Bờ sông Sài Gòn, đêm 16 âm lịch, tháng 6-1976

Đừng khóc nữa

rồi

Tôi muốn nói với đồng bào

Đừng khóc nữa vì tôi đã chết!

Làng nước, bà con biết bao luyến tiếc

Tôi đi… trĩu nặng căm hờn!

Tổ quốc ta phải được vuông tròn

Hãy chặn lại những bàn tay chia cắt!

Chúng đâu phải là gang hay sắt

Dù gang sắt, ta dẫm nát mà lên

Miền Nam ơi! Trong khói lửa thiêng liêng

Hãy cắm chặn vào lòng ngọn cờ của Đảng!

Tôi chết rồi

Hồn bay về đậu trên sao sáng

Miền Bắc thân yêu, ngày tháng tự do

Sóng bể rì rào tâm sự nhỏ to

Nhịp búa, đường cày, rộn ràng câu hát

Tôi chết rồi

Xương thịt tôi đập vào lòng đất

Miền Nam, cho ruộng lúa lên xanh;

Cho sầu riêng măng cụt trĩu đầu cành

Cho đất nước nhìn đời tươi thắm mãi;

Cho xứ Thủ lắm chum nhiều vại

Lò chưa nung màu đất đã thành son

Ôi miền Nam mảnh đất của quê hương

Vĩnh biệt!Mến thương tha thiết!

Đừng khóc nữa đồng bào ơi!

Tôi đã chết

Cứu lấy mẹ tôi

Hơi mòn, sức kiệt

Cứu lấy con tôi

mắt liếc môi hồng

Nũng nịu, ngây thơ, đòi bế, đòi bồng

Đang tù, đang tội!

Cứu lấy chị tôi

Trong giờ hấp hối

Mấy năm trời hầm tối trại giam,

Cứu lấy miền Nam,

Một nhà tù khổng lồ

Một vùng trời đen tối

Loạn dấu chân quỷ đói hôi tanh;

Đang ngày đêm, giơ vuốt, giơ nanh

Tèm thịt sống còn hơn loài hổ báo

Đang nốc cạn say sưa từng ngụm máu.

Cứu lấy miền Nam,

Tôi, hàng nghìn người ở Phú Lợi

– những hồn oan-

Đã chết trong bàn tay man rợ.

Tôi chết rồi đồng bào ơi!

Đừng khóc nữa!

Hãy đập đầu chúng nó!

Hãy đập đầu chúng nó!

Xem thêm:  Khám phá những stt buồn chất đầy ấn tượng nhất hiện nay

Hà Nội, 27-1-1959

Đường giải phóng

Gửi người em sông Mã,

chiến đấu ở miền Nam.

Đài báo: gió mùa đông bắc đến

Nhớ về miền Bắc bụng nao nao

Miền Nam nóng bức mùa mưa dứt

Gió mát ngoài kia đã thổi vào.

Đỉnh núi lớp lớp bay

Đầy sương mà vẫn ấm hơi người

Quân đi trùng điệp rừng lay chuyển

Kịp xuống đồng bằng giữa tối nay?

Chẳng có chi… ta hút thuốc lào

Say tình đồng chí phút bên nhau

Còn nghe khe suối thơm làn khói

Xuôi ngược, người ra tiễn kẻ vào!

Mỗi chặng đường dài mỗi cách xa

Mà gần thêm lại đậm thêm ra

Cần chi phải hỏi tên hay tuổi

Tóc bạc, đầu xanh ta vẫn ta!

Giải phóng… đường em đích tới rồi

Rừng xanh lá nõn đón xuân tươi

Mai vàng cũng đẹp như đào thắm

Rực rỡ đời em giữa đất trời!

Náo nức lòng anh những ý xuân

Đêm ngày theo đuổi tuổi hành quân

Em ơi, sáng lắm đường em đó

Giải phóng…

Đuờng em đẹp tuyệt trần!

Xuân 1971

Em không buồn nữa

(Tâm sự của bé Kiều, liên lạc viên của đội Tuyên truyền, chiến khu Khu 8)

Mồ côi má lúc lên năm

Ba em mất tích không tìm đâu ra.

Em không biết nữa quê nhà

Nơi đâu và lại ở xa hay gần.

Đời em cơ cực trăm phần

Ba nuôi em bắt đợ đần người ta.

Em nay tuổi đã mười ba

Bụng ham được học, ai mà cho đi.

Nhỏ như em chẳng thiếu gì

Sớm trưa cắp sách đi về vui sao!

Dắt trâu ăn cạnh bờ ao

Chiều chiều nhớ má buồn sao là buồn!

Cái hôm em trốn vô rừng

Gặp anh bộ đội mừng làm sao!

Nghe anh cắt nghĩa ngọt ngào:

(Làm dân có nước, đồng bào phải thương).

Em đi liên lạc dẫn đường

Rảnh rang lấy sách anh thường dạy cho

(Chương trình cứu quốc) mấy tờ

Say sưa em đọc không giờ nào thôi.

Lòng em nay ấm lại rồi

Như ngày có má, như hồi còn ba!

Tân An, đêm 30-5-1947

Gạo ở Trường Sơn

Anh nuôi ra suối

Vo gạo thổi cơm

Mỏm đá rêu trơn

Sẩy tay gạo đổ…

Nhìn suối, gạo chìm tất cả

Tay cầm chiếc rá

Anh nghe đau nhói trong lòng

Tiếc hoài hạt gạo trắng trong

Gánh gồng trăm lối

Nắng mưa, nhiều nỗi gian lao

Suối sâu, lớp lớp đèo cao

Biết bao công sức biết bao nghĩa tình.

Hạt gạo quê mình

Biết bao gian khổ

Ngày Quảng Bình nắng gió

Máu đổ

Mồ hôi;

Đêm Hà Nam rét buốt tê người

Đồng chiêm trũng vẫn xanh trời mạ non.

Mẹ già hằng bữa nhớ con

Cơm còn ăn độn, gạo dồn vào đây.

Gặp khi thời tiết không may

Ngoài kia dù thiếu trong này vẫn no.

Anh đứng thẫn thờ

Nhìn dòng nước chảy

Thương gạo thơm dưới suối nằm im

Gạo tình gạo nghĩa khó quên

Công ơn trời bể biết đền sao đây.

(11-1970)

Gửi An-giê-la Đê-vít

Bắt giam một người con gái không có một tấc sắt trong tay

Chính quyền Ních-xơn tự ngồi trên nước sôi lửa bỏng,

Bốn bề dâng lên từng đợt sóng

Bảo vệ An-Giê-La

Nhân loại trải nhiều “đêm không ngủ”.

Khắp năm châu vang dội những lời ca:

Chào một người Mỹ

Mang tên An-Giê-La!

Giữa những chắn song ngục tù Nhà Trắng

Một người da đen chói ngời như một vì sao sáng,

Bọn diều hâu ở nước Mỹ có thói quen hống hách

Hung hăng phát xít

An-Giê-La vào tù

Không chịu cúi đầu

Được tuyên bố trắng án.

Tiếng nói “cảm ơn” của chị đối với bọn chúa ngục Ních-xơn là:

“Sự xét xử công bằng duy nhất phải là không có vụ xét xử này”

Hơn bất cứ lời biện hộ nào, phong cách cộng sản của chị là lời đanh thép nhất.

Đường hoàng

Dõng dạc,

Nghiêm trang,

Không dối lòng, không dối bạn

(Ở đời đáng sợ nhất là sự đểu giả

Không thể nghe được giọng lưỡi hoà bình của Ních-xơn

và tình yêu trẻ con của hắn!)

Suốt hai mươi hai tháng ngồi tù

Chị là một trong những người tự do nhất nước Mỹ

Bởi cái lẽ giản đơn

Chị là Chân lý.

Thế giới luôn luôn xuất hiện những tấm gương đáng tự hào

Chủ nghĩa cộng sản bao giờ cũng long lanh như một trời sao

Rất đẹp.

Như hôm qua

Và cả mai sau

Loài người

Luôn luôn hướng về chủ nghĩa cộng sản,

Hướng về Các Mác,

Hướng về Lê-Nin,

Hướng về những con người bất khuất, trung thực, kiên trinh

Khắp nơi trên thế giới;

Nhờ họ, loài người thêm nguồn sinh lực mới, niềm tin tưởng mới.

An-Giê-La được tuyên bố trắng án

Nhưng không thoả mãn:

“Ở đây không có sự xét công bằng”

Đúng là tiếng nói của Lương tâm.

Chị là người Mỹ?

Yêu biết mấy một nước Mỹ người người như chị

Chị là người da đen?

Một quả tim hồng hơn tất cả mọi màu da.

Trên trang nhất tờ báo Đảng chúng toi hôm nay đăng nổi bật

Ảnh An-Giê-La

Đang giơ cao nắm tay, hồn hậu

Rất đỗi tự tin và rất đáng tự hào

Cái điều người ta nghĩ trước tiên về người cộng sản:

Không sợ hy sinh

Chẳng biết cúi đầu

Một lòng một dạ

Sống chết bên nhau…

An-Giê-La Đa-Vít!

Một lần nữa lại một đêm không ngủ

Mừng cho chị

Và mơ về một thế giới cộng sản mai sau…

6-6-1972

Hẹn đến vành đai

Tặng tác giả “Mẫn và Tôi”

Nhân cuộc chia tay lần thứ hai.

– Em là giải phóng quân

Khoẻ sao tên gọi ấy!

– Tất cả vì nhân dân

Đời em sao đẹp vậy!

Mũ tai bèo mềm mại

Thoạt nhìn đã mến thân

Như chim non bay nhảy

Rộn rã cuộc hành quân.

Lội suối hái hoa rừng

Cớ sao tay ngập ngừng?

Nghĩ về người sắp đến

Chia đều mỗi sắc hương.

Trải bao ngày mưa nắng

Em lại đẹp nghìn lần

Tình yêu và Tổ quốc

Náo nức một mùa xuân!

Ta cùng đến vành đai

Có anh bên em đó

Con chim ca đầu ngõ

Man mác gió ban mai.

Nghĩ về một chiếc cầu

Có lần ta qua đấy

Ôi, giấc mộng rừng sâu

Đêm đêm ta lại thấy.

Em hiện trên trang sách

Em sống giữa cuộc đời

Rất khác nhau phong cách

Mà sao đẹp cả đôi.

Nghìn xưa không dễ thấy

Nghìn sau chẳng tàn phai

Vườn ta hoa đẹp mãi

Hương sắc của thời nay.

Bây giờ đến bao giờ

Tìm chưa cạn nguồn thơ

Ta đi trong hiện thực

Lòng tràn những ước mơ.

Hà Nội, 1974

Hoa 46

Yêu một mùa hoa đẹp

Bãi vàng khắp ngõ nắng xuân phơi

Ngọc Hà qua những đêm sương muối

Đào vẫn xoè hoa kịp đón mai.

Thầm hẹn thi nhau nở đúng mùa

Đẹp này đất Mẹ điểm trang cho?

Mai càng óng ánh, đào càng thắm

Đất nước thêm giàu bao ý thơ.

Hương toả gần bay đến tự xa

Một mùa ôi! chỉ một lần hoa

Đầu hè nóng bỏng đồng băng giá

Hoa bốn mùa là Hoa Đảng ta.

Cội Bốn-nghìn-năm: Hoa 46

Hương bay ngào ngạt khắp trăm miền!

Biết ơn năm cũ, yêu ngày mới

Chén rượu đầu xuân ấm dưới đèn.

Kết quả

Hàng ớt chín đỏ bờ kinh

Đám cà tím ngát, líp hành mướt ô

Dây lang xanh mịt phủ bờ

Dưa leo, mướp khía đu đưa nặng giàn

Anh em trong bụng vui thầm:

Mới trồng độ nọ có ăn dạo này!

Vô phân tưới nước liền tay

Nhânviên, cán bộ hàng ngày quyết tâm.

Đi ngang xuống thảy ngưng dầm

Nhìn đứt con mắt, khuất vàm mới thôi.

Mười người chắc lưỡi cả mười:

“Cơ quan tiến bộ quá trời, các cha!”

Từ ngày quyết chí tăng gia

khẩu phần tính trội bằng ba lúc thường

Cơ quan đoàn kết vô phương

Gia lao cùng chịu tình thương càng buồn.

Mỹ Tho, 1950

Lực sĩ

Cử tạ bao nhiêu thành lực sĩ?

Dù nghìn cân nặng để làm chi!

Có hay cô gái Tây Nguyên đó

Gùi gạo trăm cân, nặng vẫn đi.

Có gạo lên lưng mừng lắm lắm

Miễn sao bộ đội được ăn no

Riêng mình chẳng quản chi mưa gió

Dốc đứng, đường trơn, một nắm ngô.

Người em nhẹ bỗng: bốn mươi cân

Trĩu nặng hai vai gấp mấy lần

Thù giặc, đi hoài không biết mỏi

Tinh thần nâng đỡ sức đôi chân.

“Lực sĩ” của ta là thế đấy!

Không ham danh hão, chẳng khoe tài

Đấu trường thầm lặng không ai thấy

Vô địch phải đâu chỉ một người.

Khi qua dốc núi Trường Sơn, 11-1970

Mẹ già bên sông

Nửa đêm trời cứ đổ mưa

Lần trong lau sậy tìm đò đưa sông

Đến bờ nói đến tiền nong

Ai ngờ mẹ giận, giọng không tán thành:

(Đem thân gách vác việc mình

Lấy tiền bộ đội sao đành hở con!)

Ngập ngừng… mẹ lại thở than:

(Trời mưa mà cũng đi làm… tội không!)

Bạn nghe cảm động khôn cùng

Tôi nghe thấy ấm trong lòng ấm ra

Trời mưa không dứt, đường xa…

Vừa đi vừa nhớ mẹ già bên sông!

Trà Vinh, 6-1947

Xem tiếp: Tập thơ: Đường giải phóng (1977) – Bảo Định Giang

Theo Thuvientho.com

Check Also

nhung bai tho ngan hay ve hoa dac sac nhat 310x165 - Những bài thơ ngắn hay về hoa đặc sắc nhất

Những bài thơ ngắn hay về hoa đặc sắc nhất

Trong thế giới tự nhiên có muôn vàn loài hoa khác nhau. Mỗi loài hoa …