Home / Chùm thơ chọn lọc / Nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn và những bản thơ dịch tác giả khác (Phần 5)

Nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn và những bản thơ dịch tác giả khác (Phần 5)

Nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn và những bản thơ dịch tác giả khác (Phần 5)

Các bản thơ dịch của Bùi Hạnh Cẩn thể hiện được các yêu cầu về các thể thơ xưa. Với đặc trưng của các thể thơ này “ý tại ngôn ngoại” nên khi dịch vừa phải đảm bảo được nội dung của phần nguyên bản. Vừa phải đảm bảo được các yêu cầu về thể thơ. Để làm được điều đó đòi hỏi một người và có khả năng sử dụng văn chương tốt. Và Bùi Hạnh Cẩn là một trong số đó. Tiếp nối chùm Bản thơ dịch tác giả khác phần 4 chúng tôi sẽ giới thiệu tiếp cho bạn các bàn dịch hay nhất.

Nội dung bài viết

Cung từ – Lý Kiến Huân

Cửa cung đóng mãi áo xiêm nhàn

Nghe nói nhà vua tóc nạc lan

Lại thích hoa rơi xuân chẳng biết

Trôi từ ngòi ngự tới nhân gian

Phụng hoạ hạnh Vi Tự Lập “Sơn trang thị yến” ứng chế – Lý Kiệu

Non Đông: Nơi tể phụ

Sông Lạc: Chốn vương sư

U tình quên mũ trọng

Chúa mến tới tiều ngư

Núi Động nghiêm lệnh vắng

Cầu Bá ơn xe qua

Cửa thông rợp cờ xí

Rèm đay rộn áo hoa

Bậc đá dàn bãi rộng

Lầu cao ngất xe mờ

Ráng mây tiên kề lối

Đàn rượu thói tục thưa

Cây cao ngoài ngàn tuổi

Thác đổ trăm trượng thừa

Hang sâu từng luyện thuốc

Động cổ chứa thi thư

Cây đậu chim vẫy gió

Ao lặn cá tự do

Biết đây thiên tử quý

Nhớ lều Vũ Hầu xưa

Thị yến Trường Ninh công chúa đông trang ứng chế – Lý Kiệu

Biệt thự kề cung điện

Mây tía trẩy xe loan

Tiệc lớn đông quyền quý

Sáo tiên reo Phượng Hoàng

Núi Nam cây liên tiếp

Bến Bắc khói

Ơn cho say tuý lúy

Lưu luyến, về chẳng ham.

Xem thêm:  Nhà thơ Thái Bá Tân và tuyển tập thơ dịch tác giả khác phần 7

Đề Lư Ngũ cựu cư – Lý Kỳ

Vật ở người đâu hẹn bặt rồi

Đình hoang buộc ngựa sầu khôn nguôi

Trước song biếc trúc rờn hoang bãi

Ngoài cửa xanh non giống trước hoài

Thao thiết trời thu xao lá rụng

Chon von liễu úa lạnh chim ngơi

Nhớ người rớt lệ dòng đông chảy

Năm tháng đơm hoa biết vị ai

Phụng tống ngũ thúc nhập kinh kiêm ký Kỳ Vô Tam – Lý Kỳ

Mây mờ mang ánh xế

Hận biệt lúc nào cùng

Đường Hoàng Sơn muốn ngó

Không thể thấy người mong

Thánh Thiện các tống Bùi Địch nhập kinh – Lý Kỳ

Tuyết hoa dày gác ngất

Rêu sắc ngấn bao lan

Thược dược im thềm vắng

Ngô đồng lạnh nắng chang

Trong veo ca khỏi bệnh

Tay nắm tạm

Lá rơi hoà nhịp khánh

Nóc chùa quạ đói ran

Dòng Y đông hận biệt

Nước Bá tây trông tràn

Xưa cậy thượng thư sảnh

Đường mây mấy gian nan

Thôi Ngũ Lục đồ bình phong các phú nhất vật đắc Ô Tôn bội đao – Lý Kỳ

Lưng người Ô Tôn đeo hai đao

Lưỡi sắc đứt lông gấm làm dải

Chuôi cầm thay gối ngủ trong lều

Phi ngựa chém băng trên đồn ai

Đeo dao ma quái chạy tan tác

Ngời ngời ánh thép loá biển cát

Phiến ngọc non âm làm đá mài

Nghiêng sông Độc Lưu rửa mới sạch

Bình phong chủ nhân vẽ kỳ lạ

Bao sắt vòng vàng khéo điểm tô

Quay đầu chăm chú không chớp mắt

Lòng ta chợt nảy thú giang hồ

Tống Lý Hồi – Lý Kỳ

Biết anh quan chức Đại tư nông

Xe ngự Ly Sơn chức trách hùng

Năm phát bạc tiền hầu phủ ngự

Ngày coi suối ấm rót ly cung

Vách ngàn tuyết ráng đường cơ rợp

Hoa lạnh đầu đông lối kiệu lồng

Văn vật thanh danh đâu đó nhỉ

Tự thương nấn ná bước Quan Đông

Hán cung từ – Lý Thương Ẩn

Sen biếc sang tây chửa thấy về

Tập Linh vua ở mãi đài kia

Quan hầu mắc chứng Tương Như khát

Móc quý không hề được một ly

Phụng hoạ sơ xuân hạnh Thái Bình công chúa nam trang ứng chế – Lý Ung

Nghe đồn Ngân Hán còn đá dệt

Lại thấy xe vàng vượt Tử Vi

Chức Nữ bên cầu Ô Thước dựng

Người tiên trên gác Phượng Hoàng phi

Gió vần cung quán lay ca quạt

Thác đổ sân thềm ẩm vũ y

Nay buổi chung vai vượt Ngưu, Đẩu

Cưỡi bè cùng lướt biển sóng về

Xem thêm:  1001 bài thơ tình cô đơn, trái tim buồn lẻ loi cần được yêu thương

Bồi Trương thừa tướng tự Tùng Tư giang đông bạc Chử Cung – Mạnh Hạo Nhiên

Tùng Tư theo nước xuống

Lên thuyền giục chèo dòng

Tạm lơi chuyện sách lược

Chi ngại giờ giá băng

Giặt khăn riêng cũ được

Rửa mũ vẫn nay trông

Nước ổn dân yên sống

Quên ngờ chim thong dong

Đảo lẻ ngút mây khói

Bốn phương ngời núi sông

Sắt se chiều ngả gió

Chầm chậm trời về đông

Vân Mộng săn khua vẳng

Sở Từ chài rộn sông

Chử Cung nào phải chốn

Sông tối thuyền mênh mông

Tống Chu Đại nhập Tần – Mạnh Hạo Nhiên

Ngũ Lăng du khách biệt

Kiếm báu ngàn vàng này

cởi gươm tặng

Chút lòng một đời đây

Tống Đỗ thập tứ chi Giang Nam – Mạnh Hạo Nhiên

Kinh Ngô liên tiếp nước là làng

Anh trẩy, sông xuân sóng rộn ràng

Ngày xế thuyền trơ đâu chốn trọ

Chân trời một ngó nát can tràng

Quân thành tảo thu – Nghiêm Vũ

Ải Hán đêm qua dậy gió thu

Non tây mây bắc ải trăng lùa

Càng xui phi tướng dồn quân dữ

Chiến trận không tha một giặc thù

Thiếu niên hành – Ngô Tượng Chi

Đội ơn săn bắn Tiểu Bình Tân

Khẳng khái thường quen cánh quý nhân

Một ném ngàn vàng gan mật vững

Nhà trơ bốn vách chẳng hay bần

Xuất quan – Ngụy Trưng

Lại đuổi hươu đồng rộng

Ném bút theo việc quân

Tung hoành kế chưa đạt

Khảng khái chí hãy còn

Chống gậy gặp Thiên tử

Ruổi ngưa ra cửa quan

Xin dây trói Nam Việt

Tựa xa thu cõi đông

Gắng gỏi dốc

Ẩn hiện ngó đồng bằng

Chim lạnh kêu cây cổ

Vượn đêm hú núi hoang

Đã mòn mắt ngàn dặm

Quê xa mộng vương hồn

Há không sợ gian hiểm

“Quốc sĩ” nặng nghĩa ơn

Quý Bố không hứa hão

Hầu Doanh một lời tròn

Đời người cảm chí khí

Công danh mấy ai bàn.

Cửu nhật sứ quân tịch phụng tiễn Vệ trung thừa phó Trường Thuỷ – Sầu Tham

Tiết sứ hiên ngang miền tây đi

Rung cung khoác giáp “Võ lâm nhi”

Gió sương đài các dày cây cỏ

Sát khí trong quân phủ bóng kỳ

Biết trước ra oai hùng Hán tướng

Chính khi tan tác bụi Hồ kia

Sứ quân, xin chuốc thêm ly cúc

Bên giậu đông say nhịp trúc ty

Đăng cổ Nghiệp thành – Sầu Tham

Xuống ngựa lên thành Nghiệp

Thành suông không vết chi

Lửa nội gió đông nổi

Đêm tràn điện Phi Vân

Góc thành nam ngó Vọng Lăng đài

Chương thuỷ về đông nước chảy xuôi

Vũ Đế cung xưa người vắng hết

Năm năm xuân sắc tới vì ai

Hiến Phong đại phu phá Bá Tiên khải ca kỳ 1 – Sầu Tham

Tướng Hán đội ơn tây dẹp Nhung

Thư mừng trước báo Vị Uơng cung

Nhà vua định đón nơi Lân các

Nhị Sư bây giờ ai nêu công

Hồ già ca tống Nhan Chân Khanh sứ phó Hà Lũng – Sầu Tham

Anh chẳng thấy khèn Hồ tiếng rất buồn

Người Hồ râu tía mắt xanh thổi

Thổi khèn một khúc còn chưa xong

Sầu não chết người sang Lâu Lan

lối Tiêu Quan

Gió bấc thổi đứt cỏ Thiên san

Nam núi Côn Lôn trăng xế tà

Người Hồ nhìn trăng thổi khèn Hồ

Khèn Hồ oán chừ sắp tiễn anh

Non Tần ngó mây non Lũng xanh

Biên thành đêm đêm nhiều mộng oán

Mấy ai thích nghe khèn đêm trăng

Phó Bắc Đình độ Lũng tư gia – Sầu Tham

Tây tới Luân Đài vạn dặm thừa

Tin quê cũng biết sẽ càng thưa

Lũng Sơn yểng vẹt từng hay nói

Nhắn giúp quê nhà luôn gửi thư

Tảo thu dữ chư tử đăng Quắc Châu tây đình quan thiếu – Sầu Tham

Đỉnh cao chim vút lối

Khách tới cùng với mây

Rừng thoáng ngàn nhà nhỏ

Trời dăng núi cúi mày

Vồng lơi treo Thiểm Bắc

Mưa gấp quá Quan Tây

Vách dựng tràn vò rượu

Khe xanh rộn tiệc đầy

Quan hèn nào đáng nói

Khách quý tay cầm tay

Chỉ có vườn quê ấy

Cảnh xưa chẳng đổi thay

Thích trung tác – Sầu Tham

Ngựa ruổi về tây muốn tới trời

Xa nhà trăng sáng hai phen rồi

Đêm nay chẳng biết nơi nào trọ

Cồn cát ngàn muôn chẳng bóng người.

Thủ xuân Vị Tây giao hành, trình Lam Điền Trương Nhị chủ bạ – Sầu Tham

Vị Tây mấy bận gió cùng mưa

Cỏ mượt hoa tươi lấm bụi mờ

Tần Nữ tuyết còn vương vấn đỉnh

Hồ Công dương mới ngả sau gò

Sầu trông đầu bạc dơ lương ít

Hối biệt non xanh nhớ suối xưa

Nghe bảo Võng Xuyên tốt

Rượu xuân bình ngọc chính nên đưa

Tửu Tuyền thái thú tịch thượng tuý hậu tác – Sầu Tham

Thái thú Tửu Tuyền gươm giỏi múa

Nhà cao mở tiệc đêm trống gõ

Khèn Hồ một khúc nghe nẫu lòng

Nhìn nhau lệ khách như mưa đổ

Vi viên ngoại gia hoa thụ ca kỳ 1 – Sầu Tham

Năm nay hoa đẹp giống năm trước

Người tới năm xưa nay già hết

Mới hay người già không như hoa

Đáng tiếc hoa rơi bác chớ quét

Vi viên ngoại gia hoa thụ ca kỳ 2 – Sầu Tham

Nhà ông anh em ít ai bằng

Quan khanh, Ngự sử, Thượng thư lang

Chầu về bên hoa thường họp khách

Hoa rơi bình ngọc rượu xuân thơm

Vũ Uy tống Lưu phán quan phó Thích Tây hành quân – Sầu Tham

Núi lửa tháng năm thưa

Ngựa anh dồn vó tựa chim vù

Hành dinh đô hộ tây Thái Bạch

Một tiếng còi vang sáng đất Hồ

Vương Chiêu Quân Từ – Thạch Sùng

Ta vốn nhà nền nếp

Sắp sang đất Thiền Vu

Kẻ đi lời chửa hết

Phía trước đã bay cờ

Hầu tớ dàn dụa lệ

Ngựa xe cũng ngẩn ngơ

Thương nhau quặn gan ruột

Vạt lụa hoen lệ mờ

Ngày lại ngày dầu dãi

Rồi đến cõi Hung Nô

Lều vải làm cung điện

“Yên Chi” đổi xưng hô

Đất lạ luôn đau đáu

Giàu sang mà chi giờ

cùng làm nhục

Vừa sợ lại vừa dơ

Muốn chết không phải dễ

Ẩn nhẫn kiếp sống thừa

Sống thừa càng tủi cực

Phẫn uất rối tơ vò

Muốn nhờ cánh hồng nhạn

Cưỡi vút nẻo mây mờ

Hồng nhạn cũng hờ hững

Đứng ngồi đều thẫn thờ

Xưa là ngọc hộp quý

Nay lại hoá phân khô

Hoa sớm không thoả dạ

Đành rầu như cỏ thu

Nhắn nhủ người hậu thế

Chớ có lấy chồng xa

Lạc Dương khách xá phùng Tổ Vịnh lưu yến – Thái Hy Tịch

Dằng dặc canh khuya giữa Lạc thành

Nghèo suông quán khách một thân mình

Gặp anh mua chịu men cho uống

Say khướt hay chi mọi thế tình.

Trên đây là các bản thơ dịch tiếp theo của nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn mà chúng tôi muốn giới thiệu với bạn. Với các bản dịch này bạn sẽ hiểu thêm về nội dung cũng như cách sáng tác các thể thơ xưa. Tuy sử dụng những câu chữ ngắn gọn nhưng những bài thơ này chuyển tải được ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Đừng quên đón đọc Chùm thơ dịch tác giả khác của Bùi Hạnh Cẩn phần 6 để hiểu thêm về tài hoa của ông bạn nhé!

Theo Baithohay.com

Xem thêm:  Tuyển tập những câu thơ hay về tình yêu không đọc phí cả đời

Check Also

nhung bai tho ngan hay ve hoa dac sac nhat 310x165 - Những bài thơ ngắn hay về hoa đặc sắc nhất

Những bài thơ ngắn hay về hoa đặc sắc nhất

Trong thế giới tự nhiên có muôn vàn loài hoa khác nhau. Mỗi loài hoa …