Home / Chùm thơ chọn lọc / Nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn và những bản thơ dịch tác giả khác (Phần 7)

Nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn và những bản thơ dịch tác giả khác (Phần 7)

Nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn và những bản thơ dịch tác giả khác (Phần 7)

Bùi Hạnh Cẩn được đánh giá là một nhà dịch giả tài ba. Bởi ông đã dịch rất nhiều tác phẩm thơ nổi tiếng trong và ngoài nước. Qua đó giúp độc giả Việt Nam hiểu hơn về vốn văn chương cũng như chuyển tải các tác phẩm nổi tiếng đến đông đảo bạn đọc. Sau khi kết thúc Chùm thơ dịch tác giả khác của nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn phần 6 chúng tôi sẽ tiếp tục giới thiệu cho bạn những bài thơ tiếp theo trong tập này.

Nội dung bài viết

Đề toán viên phường sở cư bích thượng – Thái Thuận

Trường An bụi đỏ ngựa xe quần

Ta thích lều ta tự ẩn thân

Điện Bắc sách không đời chả bận

Hồ Tây sẵn giúp thơ vần

Nổi chìm mình cũng nên vui sống

Vắng vẻ ai không tóc xoã trần

hiểu thêm Trần xử sĩ

Nội hoa chim hót đất trời xuân

Toán viên tự thuật – Thái Thuận

Ngàn thuở Trường An như giấc mộng

Tình đời núi cũ trái câu thề

Sáng theo cửa Bắc cùng chuông dậy

Tối đến Hồ Tây cánh vạc về

Thư xóm dưới đèn từng mở đọc

Mây thành trước gác sớm bay đi

Liễu cầu chưa nhớ nơi thăm lại

Câu cá bên hoa thú cực kỳ

Cổ ý trình bổ khuyết Kiều Tri Chi – Thẩm Thuyên Kỳ

Nhà Lư vợ trẻ ngát hoa hương

Xà khảm đồi mồi – cặp yến thương

Tháng chín chày khua tàn lá lạnh

Mười năm chinh thú nhớ Liêu Dương

Bạch Lang dòng bắc tin thư bặt

Đan Phượng thành nam thu lậu trường

Riêng nỗi vì ai sầu chẳng gặp

Lại xui trăng tỏ sáng tơ vàng

Xem thêm:  Bài thơ Họ là ai – Nhà thơ Dương Tuấn

Dao đồng Đỗ Viên Ngoại Thẩm Ngôn quá lĩnh – Thẩm Thuyên Kỳ

Trời cao đất rộng đỉnh non phân

Cách nước xa nhà mây trắng phau

Lạc phố phong quang đâu giống nhỉ

Sùng Sơn chướng khí xiết bao lần

Nam qua Trướng Hải thân đâu tá

Bắc ngó Hành Dương nhạn mấy đàn

Đôi ngả non sông muôn dặm lẻ

Bao giờ lại gặp thánh minh quân

Hoạ Vi xá nhân tảo triều – Thẩm Thuyên Kỳ

Điện trời liền mây nổi

Hành lang quét móc dăng

Hài châu xếp hàng nhạn

Cương ngọc vút bóng rồng

Đêm tàn chuông Trường Lạc

Sớm tấu rộn Minh Quang

Một kinh truyền đức cũ

Năm chữ nổi tài vang

Nghiêm chỉnh thần tiên trảy

Rộn rã cung trời sang

Ngàn xuân đời thịnh trị

Hộ giá vui rỡ ràng

Hồng Lâu viện ứng chế – Thẩm Thuyên Kỳ

Lầu hồng ngỡ thấy trắng hào quang

Chùa áp thần cung phúc Thịnh Đường

Chi Độn luyến non tình thắm thiết

Đạt Ma vượt biển dặm dài suông

Gió mai lò ấm tràn hương ngự

Đêm bặt lời kinh vẳng tiếng vàng

Ai bảo chốn này sao khó tới

Xót mình viện vắng bước lang thang

Tái nhập Đạo Trường kỷ sự ứng chế – Thẩm Thuyên Kỳ

về lại chuyển thân đời

Nội điện năm nay khác trước rồi

Bày mở càn khôn ngôi mới định

Cao treo nhật nguyệt nét xa khơi

Bước theo xe ngự đường tiên rảo

Ngồi nép lò hương phép Phật ngời

Mừng rộn ân sâu hầu ngự giá

Hai triều vua thánh rạng lâu dài

Thù Tô viên ngoại Vị Đạo hạ vãn ngụ trực hung trung – Thẩm Thuyên Kỳ

Lên lầu tiên cùng sánh

Trực bộ Lễ chia nơi

Triều phục thị sử giúp

Bữa khuya Thái quan mời

Rèm cuốn Ngân Hà tỏ

Song mở sương trăng lơi

Cây cao mát sớm lại

Đầm nhỏ nực tàn lui

Xe quan chầu giờ mở

Mũ kiếm chẳng phút ngơi

Sớm mai đề cột Hán

Ba sảnh ánh xuân ngời

Mạnh Môn Hành – Thôi Hiệu

Sẻ vàng ngậm hoa vàng

Bên thềm liệng tản mạn

Vốn muốn đền ơn vua

Làm sao chống tên đạn

Chén vàng rượu ngon đầy nhà xuân

Bình Nguyên chuông tài khách quây quần

Chật toà toàn là người trung nghĩa

Hay đâu còn có loại nịnh thần

Lời dèm nói đi rồi nói lại

Dễ khiến lòng ai lẫn phải trái

Vườn bắc mới trồng cây mận đào

Gốc rễ chưa chắc đừng bới đào

Cây tốt ra quả anh tự hái

Hỏi người chung quanh biết được sao

Cửu nhật – Thôi Quốc Phụ

Cỏ lan bậc cuốn bặt chuông loan

Thăm thẳm mây cây điện biếc hàn

Trăng sáng tự đi rồi tự lại

Chẳng còn ai tựa ngọc lan can

Trường Lạc thiếu niên hành – Thôi Quốc Phụ

Roi san hô quên bỏ

Ngựa trắng kiêu chẳng rời

Chương Đài bẻ cành liễu

Tình xuân gửi lối đời

Trường Tín thảo – Thôi Quốc Phụ

Cỏ mọc cung Trường Tín

Tháng năm nảy nơi buồn

Hoài cây xưa lấp lối

Thềm ngọc cũng bặt luôn

Tảo phát Giao Nhai sơn hoàn Thái Thất tác – Thôi Tự

Rừng đông hơi mờ trắng

Chim lạnh chợt liệng ngang

Ta cũng về núi Bắc

Trở lại chốn thảo đường

Ngày rằm

Trời trăng ngóng hai phương

Chầm chậm qua Dĩnh Thượng

Loang loáng ánh tịch dương

Sông băng thêm tuyết đọng

Dâu khô lửa nội tràn

Đi lẻ đường dài dặc

Năm tàn dễ buồn thương

Thương cho khách không áo

Làm sao chống tuyết sương

Phú đắc bạch nhật bán Tây sơn – Thường Kiến

Tấm thân như đò nhẹ

khoảng núi Tây

Thường theo bóng buồm thẳm

Xa tắp giáp trời mây

Cảnh vật chuyển thanh u

Ánh chiều đẹp sườn cây

dòng biếc mờ

Trời lặn ráng lẻ bầy

Bến bãi xa le lói

Mây hồ còn loáng bay

Bờ xa Kinh Môn khép

Rừng xám màu Sở dày

Đêm đến chuyển vắng quạnh

Se sắt lùa gió may

Bến cát cò vạc ngủ

Chốn đậu cỏ hà đầy

Trăng tròn dừng bãi trước

Đàn lẻ động vài dây

Lạnh lẽo đêm thăm thẳm

Sương băng đẫm áo dày

Tam nhật tầm Lý Cửu trang – Thường Kiến

Rừng liễu bờ đông mới tạnh mưa

Vĩnh Hoà hàn thực lướt con đò

Cố nhân nhà ở dinh Đào ấy

Trước cổng dòng khe chảy lững lờ

Quy Nhạn – Tiền Khởi

Tiêu Tương hà cớ trở về đây

Cát sáng dòng xanh rêu bến dày

Đàn sắt ngân đêm trăng loáng ánh

Không hơn nỗi oán lướt trời mây

Hồng Châu khách xá ký Liễu bác sĩ Phương – Tiết Nghiệp

Năm ngoái én làm tổ nhà chủ

Năm nay hoa nở bên đường đi

Năm năm làm khách không tới quán

Nước cũ mất còn chẳng biết chi

Bụi Hồ một dấy thiên hạ loạn

Gió xuân nơi nào chẳng biệt ly

Trùng dương nhật bồi Nguyên Lỗ Sơn Đức Tú đăng bắc thành, chúc đối tân tễ, nhân dĩ tặng biệt – Tiêu Dĩnh Sĩ

Huyện vùng cao mấy tầng thành cổ

Dăng dải xa vội vã lên trông

Mưa qua, thu toả mênh mông

Những là ẩn hiện bày trong mắt nhìn

Chân mây dòng Trĩ triền miên

Cuối trời hun hút đường chim thấy nào

Hứng Bành Trạch nao nao chưa dứt

Gió hiu hiu giục nức lòng quê

Công đường nhàn nhã gặp khi

Cúc thơm rượu ngát rót đi, mặc đời

Người mừng lúa gặt bời bời

Lệnh quan phép lính hết thời hay chăng

Mười dặm xanh dăng dăng núi trải

Lối thẳm nào mê mải màu mây

Mong manh nắng rớt nửa đầy

Mờ mờ ảo ảo ngỡ hay ngả chiều

Đâu đây cành động chim kêu

Trăng trong hắt hiu than mình

Niềm đau xót cảnh tình xuôi ngược

Lòng dặn lòng cất bước buổi mai

Nhục vinh dẫu đã thôi rồi

Tránh sao kẻ dạt người trôi não lòng

sao nỡ còn trông

Gió mưa đau đáu tấc lòng tương tư

Chuộng tài đời thịnh đương chờ

Phận mình nghề mọn bao giờ dám khoe

Ngày nào bỏ huyện lệnh đi

Cùng ai mình lại kết bề lênh đênh

Đồng tiễn Dương tướng quân kiêm Nguyên Châu đô đốc ngự sử trung thừa – Tô Đĩnh

Hung Nô nối Quy Sa

Triều đình cử Hổ Nha

Nhiên Minh thay phong tục

Khứ Bệnh quên tình nhà

Đăng đàn ngời lễ tướng

Lên ải rạng quân ta

Gió bắc rền trống Hán

Ngựa biên nhớ khèn Hồ

Rợp cờ quân tề chỉnh

Cao mũ rợn kẻ tà

Khải hoàn bõ lao khổ

Kề dòng ngự rộn hoa

Phụng hoạ sơ xuân hạnh công chúa nam trang ứng chế – Tô Đĩnh

Cung chúa lầu cao nước Bá liền

Ngự du xuân sớm cảnh bình yên

Phượng Hoàng dưới gác cao nghìn trượng

Ô Thước đầu cầu tiệc ngự chen

Đôi lúc giữa hoa màu đá rạng

Thời thường lối trúc suối hồng quen

Sáng nay hộ giá Bình Dương quán

Không tiện dòng Ngân một lá thuyền

Sứ Lĩnh Nam văn Thôi Mã nhị ngự sử bính bái thai lang – Tô Vị Đạo

Buổi chim bầy vút cánh

Cành oanh động tin xa

Minh Quang cùng đợi họp

Phong độ bao nếp ưa

Mừng được vua cất nhắc

Than nỗi gác đài chia

Rừng xưa nhớ bách rợp

Tướng mới ngăn lan đưa

Hình dê thần rời mũ

Đàn trĩ lành xe chờ

Nam Đẩu xa riêng ngán

Dải sao ngóng mịt mờ

– Tống Chi Vấn

Xuống núi Tung chừ nhiều suy tư,

Cùng người đẹp chừ bước từ từ.

Ngàn thông trăng sáng như thế mãi,

Người lại người đi biết bao giờ?

Hồ già khúc – Vương Xương Linh

Thành Nam, Hồ rợp đất

Một tối, mấy vòng vây

Khèn rộn từ đâu ấy

Ra ải, khúc vút bay

Vẳng nghe trăng ải khổ

Reo quyện biển gió lay

Lầu sớm, khèn ba khúc

Lệ Hồ lại gạt đầy

Lương uyển – Vương Xương Linh

Vườn Lương trúc cũ khói thu vương

Gió thảm ngoài thành chiều muốn buông

Cờ xí muôn xe đâu đó nhỉ

Bình Đài khách khứa có ai thương

Phù Dung lâu tống Tân Tiệm kỳ 1 – Vương Xương Linh

Mưa lạnh tràn sông tối tới Ngô

Tinh sương tiễn khách Sở non trơ

Bạn thân thành Lạc như thăm hỏi

Một tấm lòng băng giữa ngọc hồ

Tây cung thu oán – Vương Xương Linh

Hoa sen không sánh được người đẹp

Rèm ngọc lầu hồ gió thoảng hương

Lại oán quạt thu e ấp nỗi

Trăng sông treo sáng đợi quân vương

Thành bàng khúc – Vương Xương Linh

Cành dâu gió thu reo

Cỏ trắng thỏ đế kiêu

Mùi rượu Hàm Đan còn vương theo

Cánh đồng Bắc thành bắn chim điêu

Như hổ mọc cánh xông dinh vắng

Quay mình cánh cung ánh trăng treo

Tống Quách Tư Thương – Vương Xương Linh

Ngời cửa dòng Hoài biếc

Dừng ngựa tỏ tâm tình

Trăng sáng theo quan tốt

Triều xuân đầy năm canh

Tống Tiết đại phó An Lục – Vương Xương Linh

Mây mưa đầu bến ám non Tương

Đất Sở buồn xa khách võ vàng

Xa tiễn con thuyền về Lục quận

Chân trời đâu nhỉ Mục Lăng quan

Trường Tín thu từ kỳ – Vương Xương Linh

Thực là mệnh bạc dạ vò tơ

Mơ gặp quân vương tỉnh lại ngờ

Đuốc sáng cung Tây hay tiệc tối

Rõ ràng lối ngự chịu ơn vua

Ân tứ Nguỵ Văn Trinh Công chư tôn cựu đệ dĩ đạo trực thần – Trần Ngạn Bác

Tể tướng đã khuất núi

Dinh cơ cố cho người

Ý trời muốn báo đức

Con cháu được phần vui

Sinh thời tính trung trực

Thác rồi vẫn thơm dài

Mưa móc ơn ngày mới

Làng cũ xuân lan tươi

Công lao lưu cháu chắt

Rạng rỡ khắp nơi nơi

Cùng mừng đời thịnh trị

Mong được bậc hiền tài

Phụng sứ tuần kiểm lưỡng kinh lộ chủng quả thụ sự tất nhập Tần nhân vịnh – Trịnh Thẩm

Thánh đức đầy trời dất

Ánh xuân rạng đế kinh

Lệnh ban từ chín bệ

Ngàn dặm cây thơm cành

Ải Thiểm lan man khói

Dòng biên lác đác xanh

Khí hoà mầm nhú nảy

Mùa trĩu lòng dân sanh

Xuân móc cành lả lướt

Thu sương quả tròn xinh

Chân ai vờn bóng rợp

Áo sứ ấp hương quanh

Đường vào nhiều lối mải

Ngả rẽ nối hoàng thành

Gót tiên nào xứng lối

Níu lá rạng ân lành

Ký Tôn sơn nhân – Trừ Quang Hy

thuyền lẻ về rừng xuân

Nước ắp sông trong hoa ắp non

Xin hỏi vườn xưa quân tử ẩn

Giao du nhân thế có chăng còn

Quan san nguyệt – Trừ Quang Hy

Nhạn lẻ vút quân doanh

Não nề sương cổ thành

Khèn Hồ vẳng đâu đấy

Biên ải dậy đêm thanh

Trường An đạo kỳ 1 – Trừ Quang Hy

Vút roi qua quán rượu

Áo đẹp chơi ả đào

Muôn vạn thiêu một khắc

Đau đáu nói thế nào

Dao đồng Sái Khởi Cư yển tùng thiên – Trương Duyệt

Kinh kỳ cây cối tốt như nêm

Rằng một chồi thông vượt hẳn lên

Cảnh sắc thiên đình thêm nổi tiếng

Phong quang đầm ấm điện cung liền

Hồ treo rờ rỡ sương hoa đọng

Tán rợp tầng tầng mây thắm chen

Không tiếc tiên đơn phù vạc báu

Xin đem thân mạnh giúp vua hiền

Chớ sánh Minh Linh cây đất Sở

Bên sông già vụng cõi đời quên

Hoàn chí Đoan Châu dịch tiền dữ Cao Lục biệt xứ – Trương Duyệt

Cửa Phần giang quán cũ

Buồn trông rớt nắng hoe

Gặp nhau truyền bữa trọ

Ly biệt đổi chinh y

Sông núi xưa còn đấy

Đau nỗi đời suy vi

Lối này đều qua lại

Sống thác chẳng cùng về

Trên đây là những bản thơ dịch của Bùi Hạnh Cẩn mà chúng tôi muốn chia sẻ với bạn. Qua đó bạn sẽ hiểu hơn về phong cách sáng tác cũng như những chủ đề mà tác giả muốn gửi gắm qua những bài thơ. Và tất nhiên cũng đừng quên đón đọc Các bản thơ dịch tác giả khác của Bùi Hạnh Cẩn phần 8 để có được một cái nhìn sâu sắc hơn nhé!

Theo Thuvientho.com

Xem thêm:  Thơ tháng 3 về, chia tay & tạm biệt tháng ba hay nhất

Check Also

nhung bai tho ngan hay ve hoa dac sac nhat 310x165 - Những bài thơ ngắn hay về hoa đặc sắc nhất

Những bài thơ ngắn hay về hoa đặc sắc nhất

Trong thế giới tự nhiên có muôn vàn loài hoa khác nhau. Mỗi loài hoa …