Home / Chùm thơ chọn lọc / Nhà thơ La Fontaine và trọn bộ trang thơ ấn tượng nhất phần 2

Nhà thơ La Fontaine và trọn bộ trang thơ ấn tượng nhất phần 2

Nhà thơ La Fontaine và trọn bộ trang thơ ấn tượng nhất phần 2

La Fontaine sinh ngày 8 tháng 7 năm 1621 tại Château-Thierry trong một gia đình tiểu quý tộc, là con một người quản lý rừng. Ông có những cùng phong cách thơ hiếm có nên những trang thơ của ông vô cùng giá trị được đông đảo mọi người đánh giá cao. Ông có kiến thức uyên bác về cả và xã hội, giao thiệp rộng rãi với giới trí thức tự do, sống phóng túng, không thích gần gũi cung đình như nhiều nhà văn cổ điển khác. Nếu các bạn yêu thích nhà thơ này thì hãy cùng chúng tôi tìm hiểu những thi phẩm vang danh của ông nhé!

Người và hình bóng mình

Pour M.L.D.D.L.R

Un homme qui s’aimait sans avoir de rivaux

Passait dans son esprit pour le plus beau du monde.

Il accusait toujours les miroirs d’être faux,

Vivant plus que content dans son erreur profonde.

Afin de le guérir, le sort officieux

Présentait partout à ses yeux

Les Conseillers muets dont se servent nos Dames:

Miroirs dans les logis, miroirs chez les Marchands,

Miroirs aux poches des galands,

Miroirs aux ceintures des femmes.

Que fait notre Narcisse? Il va se confiner

Aux lieux les plus cachés qu’il peut s’imaginer

N’osant plus des miroirs éprouver l’aventure.

Mais un canal, formé par une source pure,

Se trouve en ces lieux écartés ;

Il s’y voit ; il se fâche ; et ses yeux irrités

Pensent apercevoir une chimère vaine.

Il fait tout ce qu’il peut pour éviter cette eau ;

Mais quoi, le canal est si beau

Qu’il ne le quitte qu’avec peine.

On voit bien où je veux venir.

Je parle à tous ; et cette erreur extrême

Est un mal que chacun se plaît d’entretenir.

Notre âme, c’est cet Homme amoureux de lui-même;

Tant de Miroirs, ce sont les sottises d’autrui,

Miroirs, de nos défauts les Peintres légitimes;

Et quant au Canal, c’est celui

Que chacun sait, le Livre des Maximes.

Dịch

Tặng Công tước de La Rochefoucauld.

Có một chàng yêu mình đến độ

Nghĩ trên đời chẳng có ai bằng

Luôn trong đầu óc cho rằng

Mình người đẹp nhất thế gian này rồi

Luôn kết tội gương soi không thật

Mãn nguyện trong sâu sắc sai lầm

Thần số mệnh thật ân cần

Muốn giúp chàng chữa khỏi căn bệnh này

Bèn đem gương cho bày khắp chốn

Để chàng nhìn đâu cũng thấy gương

Gương trưng cửa hiệu lái buôn

Gương treo nơi ở, trên tường, ngoài sân

Gương trong túi các chàng phong nhã

Trên dây lưng óng ả các bà

Gương soi được mệnh danh là

Cố vấn câm lặng chị em ta dùng

Chàng yêu bản thân quá chừng

Bèn tìm một chốn kín bưng giấu mình

Không dám nhìn bóng trước

nhưng rồi một dòng nước trong veo

Ngời ngời giữa cảnh đìu hiu

In bóng chàng xuống bao nhiêu lần rồi

Tức tối nhìn nghĩ nơi suối lặng

Luôn hiện hình ảo tưởng hão huyền

Chàng tìm mọi cách ngày đêm

Tránh xa con suối êm đềm xanh trong

Nhưng rồi cảm thấy cực lòng

Bởi dòng nước đẹp quá chừng khó quên

Mọi người biết, qua chuyện trên

Với họ tôi muốn nói lên điều gì

Cái dở mà thích bảo trì

Sai lầm cực kỳ là việc này đây

Tâm hồn mình trúng ngay người đó

Bao gương trưng rạng tứ bề

Là những ngu ngốc thuộc về người ta

Gương vốn hoạ sĩ tài ba

Bao nhiêu thiếu sót vẽ ra bời bời

Còn con suối thì mọi người

Biết là cuốn sách sáng ngời Châm ngôn

Rồng lắm đầu và rồng nhiều đuôi

Un envoyé du Grand Seigneur

Préférait, dit l’Histoire, un jour chez l’Empereur

Les forces de son maître à celles de l’Empire.

Un Allemand se mit à dire:

«Notre prince a des dépendants

Qui, de leur chef sont si puissants

Que chacun d’eux pourrait soudoyer une armée.»

Le Chiaoux, homme de sens,

Lui dit: «Je sais par renommée

Ce que chaque Electeur peut de monde fournir;

Et cela me fait souvenir

D’une aventure étrange, et qui pourtant est vraie.

J’étais en un lieu sûr, lorsque je vis passer

Les cent têtes d’une hydre au travers d’une haie.

Mon sang commence à se glacer;

Et je crois qu’à moins on s’effraie.

Je n’en eus toutefois que la peur sans le mal:

Jamais le corps de l’animal

Ne put venir vers moi, ni trouver d’ouverture.

Je rêvais à cette aventure,

Quand un autre dragon, qui n’avait qu’un seul chef

Et bien plus qu’une queue, à passer se présente.

Me voilà saisi derechef

D’étonnement et d’épouvante.

Ce chef passe, et le corps, et chaque queue aussi:

Rien ne les empêcha ; l’un fit chemin à l’autre.

Je soutiens qu’il en est ainsi

De votre Empereur et du nôtre.»

Dịch

Thấy sứ giả của Hoàng đế Thổ

Coi binh lực của chủ mình hơn

Của đế chế Đức bội phần

Một người Đức đã phân trần như sau:

“Vua chúng tôi có bao thuộc quốc

Từng vị mạnh đến mức tự mình

Tuyển mộ cả một đạo binh”

Sứ giả sắc sảo thông minh

Không chút trùng trình đáp lại ung dung:

“Nghe đồn từng tuyển hầu nước Đức

Thừa sức cung cấp được lắm quân

Tôi đây nhớ lại một lần

Bắt gặp cảnh tượng bất thần diễn ra

Lạ thường quá vậy mà có thực

Trăm cái đầu của một con rồng

Đang tìm mọi cách để luồn

Qua hàng rào chắn trên đường trườn đi

Chỗ tôi đứng không gì tới được

Nhưng máu tôi đóng cục đến nơi

Ít ta cũng hoảng hồn rồi

Tuy nhiên tôi chỉ sợ thôi mới kỳ

Không coi đó có gì tai hoạ

Thân con rồng vất vả mặc lòng

CHui rào ấy chuyện hoài công

Sang chỗ tôi đứng cũng không được nào

Tôi như đang giấc chiêm bao

Thì con rồng có một đầu lắm đuôi

Chợt xuất hiện, lần hồi bò tới

Cạnh hàng rào tìm lối chui sang

Tôi ngạc nhiên và kinh hoàng

Đầu con rồng ấy dễ dàng trườn qua

Rồi thân, rồi cuối cùng là

Từng đuôi rồng cũng dần dà theo sau

Có gì cản trở nó đâu

Mỗi phần mở lối cho nhau tiến cùng

Hai vua ta như hai rồng”

Hai tên trộm với con lừa

Pour un Ane enlevé deux Voleurs se battaient:

L’un voulait le garder; l’autre le voulait vendre.

Tandis que coups de poing trottaient,

Et que nos champions songeaient à se défendre,

Arrive un troisième larron

Qui saisit maître Aliboron.

L’Ane, c’est quelquefois une pauvre province.

Les voleurs sont tel ou tel prince,

Comme le Transylvain, le Turc, et le Hongrois.

Au lieu de deux, j’en ai rencontré trois:

Il est assez de cette marchandise.

De nul d’eux n’est souvent la Province conquise:

Un quart Voleur survient, qui les accorde net

En se saisissant du Baudet.

Dịch

Vị con lừa, của vừa ăn trộm

Hai đứa gian đánh lộn cùng nhau

Thằng này muốn để về sau

Thằng kia muốn bán cho mau lấy tiền

Khi hai cậu huyên thuyên ẩu đả

Anh đấm đau anh đá cũng già

Xẩy thằng ăn cắp thứ ba

Ở đâu lại phỗng lừa ta tẩu liền

Con lừa đó như in một xứ

Mấy ông vua tranh cự cùng nhau

Tự dưng người ở đâu đâu

Cướp phăng xứ ấy đem câu giảng hòa

Thế là trơ mắt thỏ ra

Xem thêm:  Bài thơ Chân tình trong ta – Nhà thơ Nguyễn Đình Huân

Thi sĩ được thiên thần phù hộ

On ne peut trop louer trois sortes de personnes ;

Les Dieux, sa Maîtresse, et son Roi.

Malherbe le disait: j’y souscris quant à moi:

Ce sont maximes toujours bonnes.

La louange chatouille, et gagne les esprits.

Les faveurs d’une belle en sont souvent le prix.

Voyons comme les Dieux l’ont quelquefois payée.

Simonide avait entrepris

L’éloge d’un Athlète ; et la chose essayée,

Il trouva son sujet plein de récits tout nus.

Les parents de l’Athlète étaient gens inconnus,

Son père un bon Bourgeois ; lui sans autre mérite ;

Matière infertile et petite.

Le Poète d’abord parla de son Héros.

Après en avoir dit ce qu’il en pouvait dire ;

Il se jette à côté ; se met sur le propos

De Castor et Pollux ; ne manque pas d’écrire

Que leur exemple était aux lutteurs glorieux ;

Élève leurs combats, spécifiant les lieux

Où ces frères s’étaient signalés davantage.

Enfin l’éloge de ces Dieux

Faisait les deux tiers de l’ouvrage.

L’Athlète avait promis d’en payer un talent:

Mais quand il le vit, le galant

N’en donna que le tiers, et dit fort franchement

Que Castor et Pollux acquitassent le reste.

Faites-vous contenter par ce couple céleste.

Je vous veux traiter cependant.

Venez souper chez moi, nous ferons bonne vie.

Les conviés sont gens choisis,

Mes parents, mes meilleurs amis.

Soyez donc de la compagnie.

Simonide promit. Peut-être qu’il eut peur

De perdre, outre son dû, le gré de sa louange.

Il vient, l’on festine, l’on mange.

Chacun étant en belle humeur,

Un domestique accourt, l’avertit qu’à la porte

Deux hommes demandaient à le voir promptement.

Il sort de table, et la cohorte

N’en perd pas un seul coup de dent.

Ces deux hommes étaient les gémeaux de l’éloge.

Tous deux lui rendent grâce, et pour prix de ses vers

Ils l’avertissent qu’il déloge,

Et que cette maison va tomber à l’envers.

La prédiction fut vraie ;

Un pilier manque ; et le plafond

Ne trouvant plus rien qui l’étaie,

Tombe sur le festin, brise plats et flacons,

N’en fait pas moins aux Échansons.

Ce ne fut pas le pis ; car pour rendre complète

La vengeance due au Poète,

Une poutre cassa les jambes à l’Athlète,

Et renvoya les conviés

Pour la plupart estropiés.

La renommée eut soin de publier l’affaire.

Chacun cria miracle ; on doubla le salaire

Que méritaient les vers d’un homme aimé des Dieux.

Il n’était fils de bonne mère

Qui les payant à qui mieux mieux,

Pour ses ancêtres n’en fît faire.

Je reviens à mon texte, et dis premièrement

Qu’on ne saurait manquer de louer largement

Les Dieux et leurs pareils: de plus, que Melpomène

Souvent, sans déroger, trafique de sa peine:

Enfin qu’on doit tenir notre art en quelque prix.

Les Grands se font honneur dès lors qu’ils nous font grâce.

Jadis l’Olympe et le Parnasse

Étaient frères et bons amis.

Dịch

Có ba vị tha hồ ta tán:

Vua, thiên thần và bạn tình nương,

Ấy câu châm ngữ ngọc vàng.

Mà thầy Man-Lẹp dạy làng thơ văn.

Lời tán tụng mơn man siêu dạ,

Coi thiên thần đền trả sao đây

Si-mo-nit định ra tay

Tặng nhà lực sĩ thơ hay một bài.

Thấy sự thực thi tài không đẹp,

Khó đem vào gò ép nên thơ:

Tổ tiên danh giá trụi trơ,

Mẹ cha cũng chỉ khù khờ vậy thôi,

Mà hắn cũng không tài đặc sắc;

Rõ nguồn văn bế tắc khô khan.

Nhà thơ theo sáo viết tàn,

Tán bừa lực sĩ mở màn áng văn.

Rồi quay tán con thần Tích Lịch.

Là Cat-To, Pon-Luých hai ông.

Nêu gương lẫm liệt soi chung.

Tán dương hết thẩy chiến công vang trời;

Bao nhiêu chỗ các ngài xuất sắc.

Tả đủ ra siêu cực vô biên;

Tụng thần đoạn ấy liên miên.

Chia ba tác phẩm hết nguyên hai phần.

Lực sĩ thấy lời văn hùng vĩ,

Hẹn đền ơn thi sĩ lạng vàng.

Nhưng khi cạn kẽ xem tường,

Ba phần vàng nọ bỗng chàng bớt hai,

Và thẳng cánh trả lời thi sĩ:

“Phần thiếu đòi hai vị thiên thần.

Nhưng sao làng vẫn mang ơn,

Kính bầy dạ yến xin mời.

Tiệc long trọng lựa chọn:

Song thân tôi và bọn thâm giao.

Chiếu tình ngưỡng mộ tài cao.

Xin đừng từ chối lẽ nào, cám ơn”.

Ci-mô-nit dẹp hờn vui nhận:

Mất của rồi sợ mất cả ân.

Tiệc kia đúng hẹn tới ăn,

Tạc thù niềm nở, chủ tân vui vầy

Đương chè chén bỗng nay sự lạ:

Một người nhà tất tả vào thưa;

“Cửa ngoài hai khách đứng chờ,

Nhắn mời lâp tức nhà thơ việc cần”.

Thi sĩ vội rời chân khỏi tiệc,

Đoàn khách ăn cứ việc ngồi xơi.

Thì ra hai vị sinh đôi.

Đến tìm thi sĩ ban lời cám ơn.

Và để thưởng lời văn gấm vóc,

Truyền bạn thơ tức tốc lẩn ngay.

Cơ trời tiết lộ cho hay:

Chỉ trong giây lát nơi đây sẽ nhào.

Lời thần bảo phút đâu thấy thật:

Một cột nhà biến mất bỗng dưng.

Mái trần không cột chống nâng,

Rơi vào giữa đám tưng bừng vui say.

Bao chai, đĩa phút giây vỡ hết.

Lũ trì hồ kể chi.

Chàng lực sĩ mới thảm thê:

Thiên thần muốn tỏ thiên uy chớ lờn:

Và muốn rửa sạch hờn cho bạn,

Văng giầm tin chàng nát hai chân.

Lại cho cả bọn khách ăn,

Phần nhiều què gẫy chung phần thiên tai.

Thần Phê Báo trổ tài bá cáo.

Đem chuyện này phi báo khắp nơi.

Thẩy đều tán tụng oai trời,

Nhà thơ thiên quyến ngươi người ước ao.

Tiền nhận bút đua nhau trả đắt,

Gấp mấy lần cũng nhảng kêu ca.

Phàm ai là kẻ con nhà

Muốn cho danh giá ông cha lẫy lừng,

Đem vất của đến dâng thi bá,

In thơ đề mới hả, mới sang.

Này đây truyên kể ý tường:

Đức thần chớ ngại tân dương hết lời.

Nhà văn phải lộc trời vinh hưởng;

Nghề văn: nghề cao thượng phải tôn;

Vương hầu có được ban ơn;

Bao dung văn sĩ, tâm hồn mới cao:

Văn phong, thần lĩnh xưa đâu.

Là anh em ruột, lại bầu bạn thân.

Thần chết và kẻ bất hạnh

Un Malheureux appelait tous les jours

La Mort à son secours.

Ô Mort, lui disait-il, que tu me sembles belle!

Viens vite, viens finir ma fortune cruelle.

La Mort crut, en venant, l’obliger en effet.

Elle frappe à sa porte, elle entre, elle se montre.

Que vois-je! cria-t-il, ôtez-moi cet objet ;

Qu’il est hideux! que sa rencontre

Me cause d’horreur et d’effroi!

N’approche pas, ô mort, ô mort, retire-toi.

Mécénas fut un galant homme:

Il a dit quelque part: Qu’on me rende impotent,

Cul de jatte, goutteux, manchot, pourvu qu’en somme

Je vive, c’est assez, je suis plus que content.

Ne viens jamais ô mort, on s’en dit tout autant

Thần chết và tiều phu

Un pauvre bûcheron, tout couvert de ramée,

Sous le faix du fagot aussi bien que des ans

Gémissant et courbé, marchait à pas pesants,

Et tâchait de gagner sa chaumine enfumée.

Enfin, n’en pouvant plus d’effort et de douleur,

Il met bas son fagot, il songe à son malheur.

Quel plaisir a-t-il eu depuis qu’il est au monde?

En est-il un plus pauvre en la machine ronde?

Point de pain quelquefois et jamais de repos.

Sa femme, ses enfants, les soldats, les impôts,

Le créancier et la corvée

Lui font d’un malheureux la peinture achevée.

Il appelle la Mort ; elle vient sans tarder,

Lui demande ce qu’il faut faire.

«C’est, dit-il, afin de m’aider

A recharger ce bois ; tu ne tarderas guère.»

Dịch

Đây một bác tiều phu khốn khổ

Cành cây khô che phủ đôi vai

Khom lưng, rên rỉ, mệt nhoài

Củi mang đè nặng đôi vai người già

Bước nặng nề gắng cho tới đích

Tới nhà mình bếp khói lều tranh

Thân đau, sức cạn thôi đành

Đặt ngay xuống đất bó cành củi khô

Ngẫm từ lúc sinh ra đã khổ

Trên cõi đời ai khó hơn ông?

Nhiều khi bụng đói bánh không

Nghỉ ngơi chẳng có, hòng vui thú gì

Vợ con đó, lính thời còn đó

Nào nợ nần, thuế khoá, phu phen

Khổ này ai thấu cho ông

Ông kêu Thần Chết, thần liền gặp ông

Thần hỏi ông cần gì thần giúp

Giúp tôi vác nốt, Thần: còn

Chết là hết, chữa lành mọi thứ

Phận ra sao ta chớ có lui

Khổ còn hơn chết, ai ơi!

Câu châm ngôn ấy người đời không quên

Xem thêm:  Nhà thơ Nguyễn Duy và tập thơ Bụi (1997) hay nổi tiếng phần đầu

Chàng trung niên và hai tình nhân

Un homme de moyen âge,

Et tirant sur le grison

Jugea qu’il était saison

De songer au mariage.

Il avait du comptant,

Et partant

De quoi choisir. Toutes voulaient lui plaire ;

En quoi notre amoureux ne se pressait pas tant ;

Bien adresser n’est pas petite affaire.

Deux veuves sur son coeur eurent le plus de part:

L’une encor verte, et l’autre un peu bien mûre,

Mais qui réparait par son art

Ce qu’avait détruit la nature.

Ces deux veuves, en badinant,

En riant, en lui faisant fête,

L’allaient quelquefois testonnant,

C’est à dire ajustant sa tête.

La vieille à tous moments de sa part emportait

Un peu du poil noir qui restait,

Afin que son amant en fût plus à sa guise.

La jeune saccageait les poils blancs à son tour.

Toutes deux firent tant, que notre tête grise

Demeura sans cheveux, et se douta du tour.

«Je vous rends, leur dit-il, mille grâces, les belles,

Qui m’avez si bien tondu:

J’ai plus gagné que perdu ;

Car d’hymen point de nouvelles.

Celle que je prendrais voudrait qu’à sa façon

Je vécusse, et non à la mienne.

Il n’est tête chauve qui tienne ;

Je vous suis obligé, belles, de la leçon.»

Dịch

Chàng trung niên tóc hoa râm

Nghĩ nên tính chuyện trăm năm là vừa

Trong nhà tiền mặt có thừa

Nên cứ chọn kỹ thật ưa mới rồi

Kiếm vợ đâu phải chuyện chơi

Cho nên tuy gặp lắm người làm duyên

Chàng vẫn không vội tiến thêm

Đầu bảng chỉ có trong tim hai nàng

Đều là gái goá lỡ làng

Một còn hơ hớ mọi đàng tươi xinh

Một tuy luống tuổi vẫn tình

Nhờ vào nghệ thuật giúp mình sửa sang

Những gì thiên nhiên phá ngang

Khoản đãi chàng hậu, hai nàng thay nhau

Bông lơn cười cợt vui sao

Giúp chàng tỉa tót cho đầu mới toanh

Vạch ra bới chải đã đành

Lại còn nhổ tóc để anh giống mình

Chị lớn tìm nhổ tóc xanh

Tóc bạc còn dành chị bé vặt luôn

Cuối cùng đầu chàng láng trơn

Cứ như là bị một đòn chơi khăm

Chàng nói: “Hỡi các mỹ nhân

Tôi xin đa tạ ngàn lần ơn sâu

Đã làm cho được trọc đầu

Chuyện này có mất gì đâu mà buồn

Trái lại vẫn được nhiều hơn

Bởi bụng không còn tính chuyện trăm năm

Cô nào cô nấy chăm chăm

Muốn tôi phải sống y chang như mình

Đâu ưng nền nếp bình sinh

Tôi hằng trân trọng giữ gìn hôm mai

Chỉ cái đầu hói là hay

Vững vàng trụ lại từ nay cóc cần

Xin thưa cùng các mỹ nhân

Về bài học ấy tri ân suốt đời

Cáo và cò

Compère le Renard se mit un jour en frais,

et retint à dîner commère la Cigogne.

Le régal fût petit et sans beaucoup d’apprêts:

Le galant pour toute besogne,

Avait un brouet clair ; il vivait chichement.

Ce brouet fut par lui servi sur une assiette:

La Cigogne au long bec n’en put attraper miette;

Et le drôle eut lapé le tout en un moment.

Pour se venger de cette tromperie,

A quelque temps de là, la Cigogne le prie.

“Volontiers, lui dit-il ; car avec mes amis

Je ne fais point cérémonie.”

A l’heure dite, il courut au logis

De la Cigogne son hôtesse;

Loua très fort la politesse;

Trouva le dîner cuit à point:

Bon appétit surtout; Renards n’en manquent point.

Il se réjouissait à l’odeur de la viande

Mise en menus morceaux, et qu’il croyait friande.

On servit, pour l’embarrasser,

En un vase à long col et d’étroite embouchure.

Le bec de la Cigogne y pouvait bien passer;

Mais le museau du sire était d’autre mesure.

Il lui fallut à jeun retourner au logis,

Honteux comme un Renard qu’une Poule aurait pris,

Serrant la queue, et portant bas l’oreille.

Trompeurs, c’est pour vous que j’écris:

Attendez-vous à la pareille.

Dịch

Anh chàng Cáo một hôm rộng rãi

Giữ chị Cò ở lại thết cơm

Tiệc tùng cũng nhỏ ít rườm

(Cáo ta vẫn sống như phường kiệt keo)

Cò chỉ có lèo tèo cháo loãng

Lại múc ra đểnh đoảng đĩa vơi

Mỏ dài Cò đớp không trôi

Cáo ta tờm tợp một hồi hết veo

Trả thù vố thằng keo chơi xỏ

Cách ít lâu Cò mở tiệc mời

Cáo rằng: “Vâng, tờ nhận lời

Chỗ bè bạn cả, dám chơi khách tình”

Đúng giờ hẹn Cáo nhanh nhảu tới

Khen chủ Cò, ca ngợi râm ran

Rằng Cò lịch thiệp vô vàn

Cỗ vừa chín tới, lại đang đói mèm

Cáo vốn tính hay thèm háu đói

Mùi thịt băm điếc mũi thơm lừng

Khiến cho bụng Cáo vui mừng

Món này, phải biết, vô chừng ngon ơ

Không ngờ bị chị Cò chơi xỏ

Đựng vào bình miệng nhỏ cổ dài

Mỏ Cò thò lọt như chơi

To phè mõm Cáo, ôi thôi quá bề!

Đành bóp bụng trở về buồn bực

Tiu nghỉu như cáo mắc mưu gà

Tẽn tò đuôi quắp, tai sà

Chuyện này tặng các bợm già ngẫm coi

Có ngày cũng đến lượt thôi!

Đứa trẻ và thầy đồ

L’enfant et le maitre d’ecole

Dans ce récit je prétends faire voir

D’un certain sot la remontrance vaine.

Un jeune enfant dans l’eau se laissa choir,

En badinant sur les bords de la Seine.

Le Ciel permit qu’un saule se trouva,

Dont le branchage, après Dieu, le sauva.

S’étant pris, dis-je, aux branches de ce saule,

Par cet endroit passe un Maître d’école.

L’Enfant lui crie: “Au secours! je péris.”

Le Magister, se tournant à ses cris,

D’un ton fort grave à contre-temps s’avise

De le tancer: “Ah! le petit babouin!

Voyez, dit-il, où l’a mis sa sottise!

Et puis, prenez de tels fripons le soin.

Que les parents sont malheureux qu’il faille

Toujours veiller à semblable canaille!

Qu’ils ont de maux! et que je plains leur sort!”

Ayant tout dit, il mit l’enfant à bord.

Je blâme ici plus de gens qu’on ne pense.

Tout babillard, tout censeur, tout pédant,

Se peut connaître au discours que j’avance:

Chacun des trois fait un peuple fort grand;

Le Créateur en a béni l’engeance.

En toute affaire ils ne font que songer

Aux moyens d’exercer leur langue.

Hé! mon ami, tire-moi de danger:

Tu feras après ta harangue.

Dịch

Trong chuyện này tôi xin tả đúng

Một thằng ngu lên giọng trái mùa

Một hôm có đưa trẻ thơ

Nhởn nhơ dạo bước trên bờ sông Xen

Nhỡ trượt cẳng ngã liền xuống nước

Phúc làm sao vớ được cành dương

Trước là ơn Chúa rộng thương

Sau nhờ cành liễu khỏi cơn tai nàn

Một thầy đồ lang thang tới nẻo

Đứa trẻ thơ kêu réo hết hơi

“Cứu tôi! Chết mất thầy ơi!”

Thầy đồ đạo mạo quay người đứng coi

Lên ngay giọng trái thời nghiêm nghị

Mắng trẻ thơ: “Đồ khỉ nhãi con!

Trông kìa, nó mất trí khôn!

Công đâu nuôi nấng thằng ôn vật này!

Chẳng qua bố mẹ mày vô phúc

Đẻ con hư chăm sóc toi công

Thương thay số kiếp long đong

Làm cha mẹ chẳng đau lòng lắm ru!”

Diễn thuyết xong, thầy đồ khệ nệ

Bước ra lôi đứa trẻ lên bờ

Chuyện này còn mắng vào lắm kẻ

Bọn ba hoa, hoạnh họe, sính tài

Lời tôi đã rõ nói ai

Kể ba hạng ấy ngợm người khá đông

Tạo hóa cưng chi dòng giống đó?

Thấy việc là chúng nó lôi thôi

Tìm đường múa mép khua môi

Chao ôi! ông bạn, cứu tôi đã nào!

Xong rồi sẽ nói tào lao…

Xem thêm:  Bốn mùa - Phan Thị Ngọc Hồi

Gà và viên ngọc

Un jour un Coq détourna

Une Perle qu’il donna

Au beau premier Lapidaire:

« Je la crois fine, dit-il ;

Mais le moindre grain de mil

Serait bien mieux mon affaire. »

Un ignorant hérita

D’un manuscrit qu’il porta

Chez son voisin le Libraire.

«Je crois, dit-il, qu’il est bon ;

Mais le moindre ducaton

Serait bien mieux mon affaire. »

Dịch

Một con gà

Mang viên ngọc

Đến tận nhà

Người buôn ngọc

Gần đấy nhất

Để cho không

Chú nói luôn:

“Ngọc đẹp đấy

Nhưng tôi thấy

Hạt kê con

Được việc hơn”

Một anh dốt

Được kế thừa

Tập bản thảo

Mang sang cho

Bác hàng sách:

“Chắc là quý

Nhưng tôi nghĩ

Đồng hào con

Được việc hơn”

Ong bầu và ong mật

A l’oeuvre on connaît l’Artisan.

Quelques rayons de miel sans maître se trouvèrent:

Des Frelons les réclamèrent ;

Des Abeilles s’opposant,

Devant certaine Guêpe on traduisit la cause.

Il était malaisé de décider la chose.

Les témoins déposaient qu’autour de ces rayons

Des animaux ailés, bourdonnants, un peu longs,

De couleur fort tannée, et tels que les Abeilles,

Avaient longtemps paru. Mais quoi! dans les Frelons

Ces enseignes étaient pareilles.

La Guêpe, ne sachant que dire à ces raisons,

Fit enquête nouvelle, et pour plus de lumière

Entendit une fourmilière.

Le point n’en put être éclairci.

“De grâce, à quoi bon tout ceci?

Dit une Abeille fort prudente,

Depuis tantôt six mois que la cause est pendante,

Nous voici comme aux premiers jours.

Pendant cela le miel se gâte.

Il est temps désormais que le juge se hâte:

N’a-t-il point assez léché l’Ours?

Sans tant de contredits, et d’interlocutoires,

Et de fatras, et de grimoires,

Travaillons, les Frelons et nous:

On verra qui sait faire, avec un suc si doux,

Des cellules si bien bâties.”

Le refus des Frelons fit voir

Que cet art passait leur savoir ;

Et la Guêpe adjugea le miel à leurs parties.

Plût à Dieu qu’on réglât ainsi tous les procès!

Que des Turcs en cela l’on suivît la méthode!

Le simple sens commun nous tiendrait lieu de Code ;

Il ne faudrait point tant de frais ;

Au lieu qu’on nous mange, on nous gruge,

On nous mine par des longueurs ;

On fait tant, à la fin, que l’huître est pour le juge,

Les écailles pour les plaideurs.

Dịch

Có bắt tay vào việc

Mới biết được dở hay

Bắt gặp mấy tầng mật vô chủ

Đàn ong bầu đòi nói của mình

Đàn ong bầu yêu cầu xác minh

Vụ kiện đưa vò vẽ xét xử

Của thuộc về ai

Khó làm sáng tỏ

Các chứng tá khai

Từ lâu đã gặp

Một loài động vật

Nâu nhạt dài dài

Xung quanh tầng mật

Vo vo cánh bay

Tựa như ong vậy

Nhưng đặc điểm ấy

Cũng giống ong bầu

Vò vẽ trước sau

Không có cách nào

Tìm được lý lẽ

Nhằm gỡ thế bí

Lại cho điều tra

Chứng tá hàu toà

Đông như tổ kiến

Mịt mù vụ kiện

Tựa mớ bòng bong

Xử mãi chưa xong

Một chị ong mật

Thận trọng xưa nay

Bèn nói như vầy:

“Xin toà cho biết

Cứ để thế ni

Thì ích lợi gì?

Sáu tháng trôi đi

Giẫm chân tại chỗ

Mật thì bỏ đó

Hỏng dần từng ngày

Lúc này là lúc

Toà phải khẩn trương

Có vì thói thường

Nay thêm mai bớt

Chẳng cần phúc tra

Chẳng cần phản chứng

Một mớ lủng củng

Lần mãi không ra

Xin toà chiếu cố

Cho hai loài ong

Ra đây xây tổ

Qua đó sẽ rõ

Ai biết ai không”

Ong bầu phản đối

Lời giải quyết này

Vì thế biết ngay

Bọn này không thạo

Nghệ thuật xây tầng

Mật ong tuyệt hảo

Ai thật ai xạo

rõ ràng

Vò vẽ giao hoàn

Vật về cố chủ

Lạy trời phù hộ

Cho vụ kiện nào

Cũng theo lối Thổ

Xét xử nhanh sao

Lẽ thường bình dị

Thay luật không sai

Đỡ bao lệ phí

Đằng này cứ thế

Họ gặm họ nhai

Xét xử kéo dài

Làm ta kiệt quệ

Tình hình tồi tệ

Đến nỗi về sau

Quan toà hưởng ruột ngao

Người thưa còn cặp vỏ

Cây sồi và cây sậy

Le Chêne un jour dit au Roseau:

“Vous avez bien sujet d’accuser la Nature ;

Un Roitelet pour vous est un pesant fardeau.

Le moindre vent, qui d’aventure

Fait rider la face de l’eau,

Vous oblige à baisser la tête:

Cependant que mon front, au Caucase pareil,

Non content d’arrêter les rayons du soleil,

Brave l’effort de la tempête.

Tout vous est Aquilon, tout me semble Zéphyr.

Encor si vous naissiez à l’abri du feuillage

Dont je couvre le voisinage,

Vous n’auriez pas tant à souffrir:

Je vous défendrais de l’orage ;

Mais vous naissez le plus souvent

Sur les humides bords des Royaumes du vent.

La nature envers vous me semble bien injuste.

Votre compassion, lui répondit l’Arbuste,

Part d’un bon naturel ; mais quittez ce souci.

Les vents me sont moins qu’à vous redoutables.

Je plie, et ne romps pas. Vous avez jusqu’ici

Contre leurs coups épouvantables

Résisté sans courber le dos ;

Mais attendons la fin. “Comme il disait ces mots,

Du bout de l’horizon accourt avec furie

Le plus terrible des enfants

Que le Nord eût portés jusque-là dans ses flancs.

L’Arbre tient bon ; le Roseau plie.

Le vent redouble ses efforts,

Et fait si bien qu’il déracine

Celui de qui la tête au Ciel était voisine

Et dont les pieds touchaient à l’Empire des Morts.

Dịch

Cây Sồi một hôm nói cùng cây Sậy:

“Anh rất có lý do để tố cáo thiên nhiên

Với anh, một con chim sâu là một gánh nặng đè lên

Chút xíu gió phảng phất

Làm khẽ nhăn mặt nước

Đã khiến cho anh phải cúi đầu

Trong khi mà trán tôi như núi Cápca

Chưa vừa lòng ngăn chặn mặt trời kia

Còn ngạo cả ý đồ của bão

Với anh tất cả hoá cuồng phong, với tôi tất cả đều gió thoảng

Phải chi anh mọc dưới tán lá tôi xanh

Đang um tùm che cả chung quanh

Đâu đến nỗi anh khổ nhiều như thế

Tôi sẽ chở che anh chống chọi với bão bùng

Nhưng anh thường sinh ở nơi quạnh quẽ

Chỗ biên thuỳ ướt át cả xứ gió mênh mông

Ôi! Phũ phàng chi bấy Hoá công”

Cái cây nhỏ trả lời: “Niềm thương xót của ông

Xuất phát tự tốt lòng, nhưng xin đừng ngại

Gió với tôi không dữ dội bằng đối với ông

Tôi uốn cong mình nhưng không bị gãy

Ông bấy lâu nay chống những trận gió đùng đùng

Lưng vẫn thẳng. Nhưng ta hãy chờ đoạn cuối”

Sậy mới dứt lời, từ chân trời, dữ dội

Một cơn gió lốc lao tới ầm ầm

Phương Bắc chưa từng sinh một cơn gió nào ghê gớm thế

Cây Sồi đứng vững vàng, cây Sậy cong mình uốn

Nhưng trận gió càng mạnh thêm, lồng lộn

Đến nỗi nhổ cho bật cả rễ cây

Đầu chạm tới trời mây

Và chân đụng xứ Diêm Vương dưới đất

Trên đây, Thuvientho.com đã tổng hợp dành tặng cho các bạn những trang thơ hấp dẫn nhất của nhà thơ La Fontaine. Thơ ông luôn thể hiện lòng nhân ái bao la của ông đối với người nghèo. Mời các bạn đón xem phần 3 vào một ngày không xa. Đừng bỏ lỡ nhé!

Xem Thêm: Nhà thơ La Fontaine và trọn bộ trang thơ ấn tượng nhất phần 1

Theo Thuvientho.com

Check Also

Những bài thơ hay về hoa cúc họa mi

Những bài thơ hay về hoa cúc họa mi

Hoa cúc họa mi còn được gọi là hoa cúc dại hay là hoa cúc …