Home / Chùm thơ chọn lọc / Nhà thơ Nguyễn Văn Vĩnh cùng những thi phẩm dịch vang danh phần 3

Nhà thơ Nguyễn Văn Vĩnh cùng những thi phẩm dịch vang danh phần 3

Nhà thơ Nguyễn Văn Vĩnh cùng những thi phẩm dịch vang danh phần 3

Nguyễn Văn Vĩnh là một nhà thơ sở hữu một chùm thơ dịch nước ngoài hấp dẫn được nhiều độc giả săn đón. Ông là một người đa tài, ngoài làm thơ ông còn là một nhà báo tài hoa và được người đời tôn là ”ông tổ nghề báo”. Với lòng đam mê nghệ thuật sâu sắc, ông không ngừng cố gắng cho ra mắt những thi phẩm dịch chất lượng góp phần không nhỏ cho sự khởi đầu thơ ca nước nhà. Nếu bạn là một người thích sưu tầm thơ thì đây sẽ là một điểm đến tuyệt vời dành cho bạn. Đừng bỏ lỡ nhé!

Hai người tranh nhau con sò

Un jour deux Pèlerins sur le sable rencontrent

Une Huître que le flot y venait d’apporter:

Ils l’avalent des yeux, du doigt ils se la montrent;

A l’égard de la dent il fallut contester.

L’un se baissait déjà pour amasser la proie;

L’autre le pousse, et dit: Il est bon de savoir

Qui de nous en aura la joie.

Celui qui le premier a pu l’apercevoir

En sera le gobeur; l’autre le verra faire.

Si par là on juge l’affaire,

Reprit son compagnon, j’ai l’oeil bon, Dieu merci.

Je ne l’ai pas mauvais aussi,

Dit l’autre, et je l’ai vue avant vous, sur ma vie.

Eh bien! vous l’avez vue, et moi je l’ai sentie.

Pendant tout ce bel incident,

Perrin Dandin arrive: ils le prennent pour juge.

Perrin fort gravement ouvre l’Huître, et la gruge,

Nos deux Messieurs le regardant.

Ce repas fait, il dit d’un ton de Président:

Tenez, la cour vous donne à chacun une écaille

Sans dépens, et qu’en paix chacun chez soi s’en aille.

Mettez ce qu’il en coûte à plaider aujourd’hui;

Comptez ce qu’il en reste à beaucoup de familles;

Vous verrez que Perrin tire l’argent à lui,

Et ne laisse aux plaideurs que le sac et les quilles.

Dịch

Hai người tranh nhau con sò

Hai người đi trẩy hội chùa

Qua nơi bãi cát, gặp sò nổi lên

Tay cùng trỏ, mắt cùng nhìn

Mồm cùng muốn lẩm cùng vin lý già

Người cúi nhặt, kẻ liền la:

Khoan, khoan! Hãy hỏi ai là đáng ăn?

Cứ theo như lẽ công bằng

Ai mà thấy trước thì ăn đỡ thèm

Người kia phải đứng mà xem

Đáp rằng: – Nếu vậy mà nên công bình

Nhờ trời tôi mắt cũng tinh

Cãi rằng: – Mắt tớ còn nhanh gấp mười

Tớ thề tớ thấy trước rồi

Nhưng mà tao ngửi thấy mùi đã lâu!

Trong khi cãi cọ cùng nhau

Sẩy quan án nọ đi đâu qua đường

Đôi bên đem chuyện thân tường

Xin quan phân xử đôi đường trắng đen

Cầm sò quan đứng quan nhìn

Tách đôi mảnh vỏ hút liền ruột trong

Khi quan vừa nuốt trôi xong

Ngài bèn lên giọng Bao Công phán truyền:

Xử cho bên bị bên nguyên

Quân phân đôi vỏ, hai bên xử hòa

Còn tiền phí tổn thì tha

Thơ rằng:

Kiện tụng xưa nay tốn kém to

Chẳng qua đục nước chỉ nuôi cò

Mới hay gan ruột quan moi hết

Trơ lại còn đôi cái vỏ sò!

Hai tên trộm với con lừa

Pour un Ane enlevé deux Voleurs se battaient:

L’un voulait le garder; l’autre le voulait vendre.

Tandis que coups de poing trottaient,

Et que nos champions songeaient à se défendre,

Arrive un troisième larron

Qui saisit maître Aliboron.

L’Ane, c’est quelquefois une pauvre province.

Les voleurs sont tel ou tel prince,

Comme le Transylvain, le Turc, et le Hongrois.

Au lieu de deux, j’en ai rencontré trois:

Il est assez de cette marchandise.

De nul d’eux n’est souvent la Province conquise:

Un quart Voleur survient, qui les accorde net

En se saisissant du Baudet.

Dịch

Vị con lừa, của vừa ăn trộm

Hai đứa gian đánh lộn cùng nhau

Thằng này muốn để về sau

Thằng kia muốn bán cho mau lấy tiền

Khi hai cậu huyên thuyên ẩu đả

Anh đấm đau anh đá cũng già

Xẩy thằng ăn cắp thứ ba

Ở đâu lại phỗng lừa ta tẩu liền

Con lừa đó như in một xứ

Mấy ông vua tranh cự cùng nhau

Tự dưng người ở đâu đâu

Cướp phăng xứ ấy đem câu giảng hòa

Thế là trơ mắt thỏ ra

Hội đồng chuột

Un Chat, nommé Rodilardus,

Faisait de Rats telle déconfiture

Que l’on n’en voyait presque plus,

Tant il en avait mis dedans la sépulture.

Le peu qu’il en restait, n’osant quitter son trou,

Ne trouvait à manger que le quart de son soû;

Et Rodilard passait, chez la gent misérable,

Non pour un Chat, mais pour un Diable.

Or, un jour qu’au haut et au loin

Le Galand alla chercher femme,

Pendant tout le sabbat qu’il fit avec sa dame,

Le demeurant des Rats tint chapitre en un coin

Sur la nécessité présente.

Dès l’abord, leur Doyen, personne fort prudente,

Opina qu’il fallait, et plus tôt que plus tard,

Attacher un grelot au cou de Rodilard;

Qu’ainsi, quand il irait en guerre,

De sa marche avertis ils s’enfuiraient sous terre;

Qu’il n’y savait que ce moyen.

Chacun fut de l’avis de Monsieur le Doyen;

Chose ne leur parut à tous plus salutaire.

La difficulté fut d’attacher le grelot.

L’un dit: Je n’y vas point, je ne suis pas si sot;

L’autre: Je ne saurais. Si bien que sans rien faire

On se quitta. J’ai maints chapitres vus,

Qui pour néant se sont ainsi tenus:

Chapitres, non de Rats, mais chapitres de moines,

Voire chapitres de chanoines.

Dịch

Một con mèo tên là Trạng Mỡ

Bắt chuột nhiều long lở hầm hang

Mèo đâu dữ dội lạ dường

Để cho đến nỗi sạch quang trong ngoài

Hoạ còn sót một hai chú lỏi

Đố dám thò ra khỏi cửa hang

Chú nào cũng đói họng gang

Trông thấy Trạng Mỡ coi dường yêu tinh

May được buổi tiên sinh chạy gái

Chốn cao xa trên mái nhà người

Chuột thừa được lúc thảnh thơi

Họp nhau bàn việc kim thời nguy nan

Chú chuột già ra bàn ngay trước:

Liệu mau mau trong bước hiểm nghèo

Đem chuông mà buộc cổ mèo

Để cho khi hắn leo trèo tìm ta

Leng keng nghe hiệu là ta chạy

Ai cũng khen mà lạy Cụ Trùm

Duy còn một việc đeo chuông

Nghe như hơi khó tìm phương thi hành

Hỏi lũ chuột thì anh từ cáo

Anh lại rằng: – Đây lão dại gì?

Đã đành nơi chết ai đi

Ngẩn ngơ một lát rồi thì hội tan

Té ra cuộc luận bàn thực hão

Có lạ gì bàn láo xưa nay

Chẳng là việc chuột thế này

Việc dân, việc nước cũng hay bàn xằng

Thơ rằng:

Nghị luận còn dở dang

Triều đình đông nhan nhản

Thi hành lâm cục trung

Bá quan đà tận tán

Loài vật phải bệnh dịch hạch

Un mal qui répand la terreur,

Mal que le Ciel en sa fureur

Inventa pour punir les crimes de la terre,

La Peste (puisqu’il faut l’appeler par son nom)

Capable d’enrichir en un jour l’Achéron,

Faisait aux animaux la guerre.

Ils ne mouraient pas tous, mais tous étaient frappés:

On n’en voyait point d’occupés

A chercher le soutien d’une mourante vie;

Nul mets n’excitait leur envie;

Ni Loups ni Renards n’épiaient

La douce et l’innocente proie.

Les Tourterelles se fuyaient:

Plus d’amour, partant plus de joie.

Le Lion tint conseil, et dit: Mes chers amis,

Je crois que le Ciel a permis

Pour nos péchés cette infortune;

Que le plus coupable de nous

Se sacrifie aux traits du céleste courroux,

Peut-être il obtiendra la guérison commune.

L’histoire nous apprend qu’en de tels accidents

On fait de pareils dévouements:

Ne nous flattons donc point; voyons sans indulgence

L’état de notre conscience.

Pour moi, satisfaisant mes appétits gloutons

J’ai dévoré force moutons.

Que m’avaient-ils fait? Nulle offense:

Même il m’est arrivé quelquefois de manger

Le Berger.

Je me dévouerai donc, s’il le faut; mais je pense

Qu’il est bon que chacun s’accuse ainsi que moi:

Car on doit souhaiter selon toute justice

Que le plus coupable périsse.

Sire, dit le Renard, vous êtes trop bon Roi;

Vos scrupules font voir trop de délicatesse;

Et bien, manger moutons, canaille, sotte espèce,

Est-ce un péché? Non, non. Vous leur fîtes Seigneur

En les croquant beaucoup d’honneur.

Et quant au Berger l’on peut dire

Qu’il était digne de tous maux,

Etant de ces gens-là qui sur les animaux

Se font un chimérique empire.

Ainsi dit le Renard, et flatteurs d’applaudir.

On n’osa trop approfondir

Du Tigre, ni de l’Ours, ni des autres puissances,

Les moins pardonnables offenses.

Tous les gens querelleurs, jusqu’aux simples mâtins,

Au dire de chacun, étaient de petits saints.

L’Ane vint à son tour et dit: J’ai souvenance

Qu’en un pré de Moines passant,

La faim, l’occasion, l’herbe tendre, et je pense

Quelque diable aussi me poussant,

Je tondis de ce pré la largeur de ma langue.

Je n’en avais nul droit, puisqu’il faut parler net.

A ces mots on cria haro sur le baudet.

Un Loup quelque peu clerc prouva par sa harangue

Qu’il fallait dévouer ce maudit animal,

Ce pelé, ce galeux, d’où venait tout leur mal.

Sa peccadille fut jugée un cas pendable.

Manger l’herbe d’autrui! quel crime abominable!

Rien que la mort n’était capable

D’expier son forfait: on le lui fit bien voir.

Selon que vous serez puissant ou misérable,

Les jugements de cour vous rendront blanc ou noir.

Dịch

Có một bệnh ai là chẳng khiếp

Hẳn ông trời điên tiết bày ra

Để răn thế giới gian tà

Chính danh dịch hạch (lựa là kiêng tên)

Một ngày chật ních hoàng tuyền

Phải khi trái tiết, bệnh truyền súc sinh

Giống nào giống nấy hãi kinh

Chết không khắp lượt, linh tinh phải đều

Xem ra cảnh tượng tiêu điều

Biếng ăn nhác uống, thân liều cho xong

Cao lương mỹ vị coi không

Chó rừng chó sói đều cùng nằm im

Mặc cừu, mặc lợn, tha tìm

Bồ câu, chim gáy chẳng thèm nhìn nhau

Hết vui ra cảnh buồn rầu

Hùng sư hội nghị để cầu bình yên

Diễn rằng: – Hỡi các anh em!

Trên kia nay đã xui nên cảnh này

Để răn tội chúng ta đây

Vậy nên cứu xét ai hay làm càn

Phải ra mà chịu lấy nàn

Họa may cứu được cho an các loài

Xem trong lịch sử xưa nay

Cầu qua nạn chúng, kẻ hay dâng mình

Tội ta, ta xét cho minh

Vấn tâm ta thử thực tình một phen

Như ta tham thực nết quen

Mồm này đã nhá cừu hèn biết bao?

Loài cừu tội lỗi đâu nào

Nhiều khi ta nhá đến đầu thằng chăn

Vậy nên ta chịu hiến thân

Nhưng ai có tội xa gần thú ra

Cũng nên bắt chước như ta

Để ai trọng phạm ra mà chịu thay

Chó rừng đứng dậy tâu ngay:

Thánh quân tự trách, khắc thay cho mình

Vả cừu ngu độn hôi tanh

Án mông ngự dụng là vinh cho cừu

Sự thường tội lỗi đâu nào!

Còn như thằng bé chăn cừu bất lương

Kể ra độc ác bao dường

Cùng loài cầm thú toan đường tác oai…

Sói tâu vậy, cả các loài

Một phe nịnh hót khen hoài rằng hay

Cọp, gấu dữ ác nào tày

Mà ai có dám đem bày tỏ ra?

Những loài bặng nhặng chua ngoa

Đến như chú cẩu cùng là bụt con

Đến lượt Lừa thú tội luôn:

Trót qua một bãi cỏ non của người

Phải khi bụng đói cỏ tươi

Ma tinh run rủi như mời miệng ăn

Trót đưa một lưỡi gian tham

Chịu rằng phạm lỗi tham ăn của người

Các giống nghe nói vừa rồi

Đồng thanh mắng mỏ Lừa tồi gian ngoan

Sói kia cũng thạo việc quan

Phỉnh rằng: – Nặng nhất là ăn cỏ người

Phải đem Lừa vật chết tươi

Gieo tai cho cả, tội thời tại mi

Tầm thường mà tội lăng trì

Chết nỗi! Trộm cỏ còn gì nặng hơn!

Việc này giết cũng chẳng oan

Liền đem hành hạ một cơn chết Lừa

Thế mới biết kiện thưa tố tụng

Trắng hay đen, thôi cũng thế thần

Lợn, dê cái và cừu

Une Chèvre, un Mouton, avec un Cochon gras,

Montés sur même char s’en allaient à la foire:

Leur divertissement ne les y portait pas;

On s’en allait les vendre, à ce que dit l’histoire:

Le Charton n’avait pas dessein

De les mener voir Tabarin,

Dom Pourceau criait en chemin

Comme s’il avait eu cent Bouchers à ses trousses.

C’était une clameur à rendre les gens sourds:

Les autres animaux, créatures plus douces,

Bonnes gens, s’étonnaient qu’il criât au secours;

Ils ne voyaient nul mal à craindre.

Le Charton dit au Porc: Qu’as-tu tant à te plaindre?

Tu nous étourdis tous, que ne te tiens-tu coi?

Ces deux personnes-ci plus honnêtes que toi,

Devraient t’apprendre à vivre, ou du moins à te taire.

Regarde ce Mouton; a-t-il dit un seul mot?

Il est sage. – Il est un sot,

Repartit le Cochon: s’il savait son affaire,

Il crierait comme moi, du haut de son gosier,

Et cette autre personne honnête

Crierait tout du haut de sa tête.

Ils pensent qu’on les veut seulement décharger,

La Chèvre de son lait, le Mouton de sa laine.

Je ne sais pas s’ils ont raison;

Mais quant à moi, qui ne suis bon

Qu’à manger, ma mort est certaine.

Adieu mon toit et ma maison.

Dom Pourceau raisonnait en subtil personnage:

Mais que lui servait-il? Quand le mal est certain,

La plainte ni la peur ne changent le destin;

Et le moins prévoyant est toujours le plus sage.

Dịch

Con Dê, con Cừu, con Lợn béo

Cùng một xe đương kéo qua đường

Chủ nào có phải vì thương

Đem ra chơi chợ coi phường leo dây

Hay là dắt đi đây đi đó

Để cho coi phường phố thị thành

Chẳng qua đem bán cho nhanh

Nó tham lời lãi chớ tình nghĩa chi

Lợn í éc một khi ỏm tỏi

Ngỡ trăm dao nó đuổi theo sau

Dê, Cừu chẳng rõ vì đâu

Mà kêu nhức óc váng đầu người ta

Hỏi: – Cớ chi mà la thế vậy?

Thử im mồm nằm đấy xem sao?

Chủ nhân nổi giận ào ào

Mắng Heo vô cớ kêu gào điếc tai

Kìa bắt chước như hai gã nọ

Cứ ở yên phỏng có mất gì?

Con Cừu ngậm miệng lì lì

Khôn ngoan rất mực ai thì không yêu

Heo bèn đáp: – Lựa theo thằng ngốc

Tôi đây nào phải học chú Cừu

Ví chăng Cừu biết phận Cừu

Thì Cừu chắc hẳn lo ưu mấy lần

Còn Dê nọ an thân nằm đó

Cũng chẳng qua là họ ngu si

Hai thằng này ngỡ có khi

Gọt lông và sữa vắt đi là cùng

Có lẽ thế là xong phận họ

Còn tôi đây thân nọ đã đành

Chỉ đem nướng chả, nấu canh

Sống mà cái chết vẫn dành một bên

Cho nên phải khóc rên rầm rĩ

Ngẫm Heo ta thâm thúy lạ dường

Nhưng mà dẫu thét cùng đường

Chết đành vẫn chết ai thương đâu mà

Biết cam thân phận mới là

Xem thêm:  Người lái đò - Ngọc Nghĩa

Loài vật phải bệnh dịch hạch

Un mal qui répand la terreur,

Mal que le Ciel en sa fureur

Inventa pour punir les crimes de la terre,

La Peste (puisqu’il faut l’appeler par son nom)

Capable d’enrichir en un jour l’Achéron,

Faisait aux animaux la guerre.

Ils ne mouraient pas tous, mais tous étaient frappés:

On n’en voyait point d’occupés

A chercher le soutien d’une mourante vie;

Nul mets n’excitait leur envie;

Ni Loups ni Renards n’épiaient

La douce et l’innocente proie.

Les Tourterelles se fuyaient:

Plus d’amour, partant plus de joie.

Le Lion tint conseil, et dit: Mes chers amis,

Je crois que le Ciel a permis

Pour nos péchés cette infortune;

Que le plus coupable de nous

Se sacrifie aux traits du céleste courroux,

Peut-être il obtiendra la guérison commune.

L’histoire nous apprend qu’en de tels accidents

On fait de pareils dévouements:

Ne nous flattons donc point; voyons sans indulgence

L’état de notre conscience.

Pour moi, satisfaisant mes appétits gloutons

J’ai dévoré force moutons.

Que m’avaient-ils fait? Nulle offense:

Même il m’est arrivé quelquefois de manger

Le Berger.

Je me dévouerai donc, s’il le faut; mais je pense

Qu’il est bon que chacun s’accuse ainsi que moi:

Car on doit souhaiter selon toute justice

Que le plus coupable périsse.

Sire, dit le Renard, vous êtes trop bon Roi;

Vos scrupules font voir trop de délicatesse;

Et bien, manger moutons, canaille, sotte espèce,

Est-ce un péché? Non, non. Vous leur fîtes Seigneur

En les croquant beaucoup d’honneur.

Et quant au Berger l’on peut dire

Qu’il était digne de tous maux,

Etant de ces gens-là qui sur les animaux

Se font un chimérique empire.

Ainsi dit le Renard, et flatteurs d’applaudir.

On n’osa trop approfondir

Du Tigre, ni de l’Ours, ni des autres puissances,

Les moins pardonnables offenses.

Tous les gens querelleurs, jusqu’aux simples mâtins,

Au dire de chacun, étaient de petits saints.

L’Ane vint à son tour et dit: J’ai souvenance

Qu’en un pré de Moines passant,

La faim, l’occasion, l’herbe tendre, et je pense

Quelque diable aussi me poussant,

Je tondis de ce pré la largeur de ma langue.

Je n’en avais nul droit, puisqu’il faut parler net.

A ces mots on cria haro sur le baudet.

Un Loup quelque peu clerc prouva par sa harangue

Qu’il fallait dévouer ce maudit animal,

Ce pelé, ce galeux, d’où venait tout leur mal.

Sa peccadille fut jugée un cas pendable.

Manger l’herbe d’autrui! quel crime abominable!

Rien que la mort n’était capable

D’expier son forfait: on le lui fit bien voir.

Selon que vous serez puissant ou misérable,

Les jugements de cour vous rendront blanc ou noir.

Dịch

Có một bệnh ai là chẳng khiếp

Hẳn ông trời điên tiết bày ra

Để răn thế giới gian tà

Chính danh dịch hạch (lựa là kiêng tên)

Một ngày chật ních hoàng tuyền

Phải khi trái tiết, bệnh truyền súc sinh

Giống nào giống nấy hãi kinh

Chết không khắp lượt, linh tinh phải đều

Xem ra cảnh tượng tiêu điều

Biếng ăn nhác uống, thân liều cho xong

Cao lương mỹ vị coi không

Chó rừng chó sói đều cùng nằm im

Mặc cừu, mặc lợn, tha tìm

Bồ câu, chim gáy chẳng thèm nhìn nhau

Hết vui ra cảnh buồn rầu

Hùng sư hội nghị để cầu bình yên

Diễn rằng: – Hỡi các anh em!

Trên kia nay đã xui nên cảnh này

Để răn tội chúng ta đây

Vậy nên cứu xét ai hay làm càn

Phải ra mà chịu lấy nàn

Họa may cứu được cho an các loài

Xem trong lịch sử xưa nay

Cầu qua nạn chúng, kẻ hay dâng mình

Tội ta, ta xét cho minh

Vấn tâm ta thử thực tình một phen

Như ta tham thực nết quen

Mồm này đã nhá cừu hèn biết bao?

Loài cừu tội lỗi đâu nào

Nhiều khi ta nhá đến đầu thằng chăn

Vậy nên ta chịu hiến thân

Nhưng ai có tội xa gần thú ra

Cũng nên bắt chước như ta

Để ai trọng phạm ra mà chịu thay

Chó rừng đứng dậy tâu ngay:

Thánh quân tự trách, khắc thay cho mình

Vả cừu ngu độn hôi tanh

Án mông ngự dụng là vinh cho cừu

Sự thường tội lỗi đâu nào!

Còn như thằng bé chăn cừu bất lương

Kể ra độc ác bao dường

Cùng loài cầm thú toan đường tác oai…

Sói tâu vậy, cả các loài

Một phe nịnh hót khen hoài rằng hay

Cọp, gấu dữ ác nào tày

Mà ai có dám đem bày tỏ ra?

Những loài bặng nhặng chua ngoa

Đến như chú cẩu cùng là bụt con

Đến lượt Lừa thú tội luôn:

Trót qua một bãi cỏ non của người

Phải khi bụng đói cỏ tươi

Ma tinh run rủi như mời miệng ăn

Trót đưa một lưỡi gian tham

Chịu rằng phạm lỗi tham ăn của người

Các giống nghe nói vừa rồi

Đồng thanh mắng mỏ Lừa tồi gian ngoan

Sói kia cũng thạo việc quan

Phỉnh rằng: – Nặng nhất là ăn cỏ người

Phải đem Lừa vật chết tươi

Gieo tai cho cả, tội thời tại mi

Tầm thường mà tội lăng trì

Chết nỗi! Trộm cỏ còn gì nặng hơn!

Việc này giết cũng chẳng oan

Liền đem hành hạ một cơn chết Lừa

Thế mới biết kiện thưa tố tụng

Trắng hay đen, thôi cũng thế thần

Lừa đội lốt sư tử

De la peau du Lion l’Âne s’étant vêtu

Etait craint partout à la ronde,

Et bien qu’Animal sans vertu,

Il faisait trembler tout le monde.

Un petit bout d’oreille échappé par malheur

Découvrit la fourbe et l’erreur.

Martin fit alors son office.

Ceux qui ne savaient pas la ruse et la malice

S’étonnaient de voir que Martin

Chassât les Lions au moulin.

Force gens font du bruit en France

Par qui cet apologue est rendu familier.

Un équipage cavalier

Fait les trois quarts de leur vaillance.

Dịch

Con lừa kia đội da sư tử

Khắp một vùng tưởng dữ đều kinh

Tuy rằng là vật đáng khinh

Mà ai cũng sợ oai linh con lừa

Rủi phải khi tai thò một mẩu

Lòi ngay ra điên đảo khi man

Chó kia chạy đuổi sủa ran

Làm cho ai nấy nổi cơn tức cười

Cách giả hình mấy người đã biết

Thấy mãnh sư chạy riết trong đồng

Thì ai cũng lấy lạ lùng

Mãnh sư để chó đuổi cùng thế nhưng?

Xét lắm kế lẫy lừng trong cõi

Cũng chẳng qua giả dối như lừa

Nghênh ngang hống hách gió mưa

Chẳng qua đội lốt để lừa người ngây

Nhái muốn to bằng bò

Une Grenouille vit un Boeuf

Qui lui sembla de belle taille.

Elle, qui n’était pas grosse en tout comme un oeuf,

Envieuse, s’étend, et s’enfle et se travaille,

Pour égaler l’animal en grosseur,

Disant: “Regardez bien, ma soeur;

Est-ce assez? dites-moi: n’y suis-je point encore?

Nenni – M’y voici donc? – Point du tout. M’y voilà?

Vous n’en approchez point. “La chétive pécore

S’enfla si bien qu’elle creva.

Le monde est plein de gens qui ne sont pas plus sages.

Tout bourgeois veut bâtir comme les grands seigneurs,

Tout prince a des ambassadeurs,

Tout marquis veut avoir des pages.

Xem thêm:  Trở về - Huỳnh Văn Nghệ

Dịch

Con nhái nom thấy con bò

Hình dung đẹp đẽ mình to béo tròn

Nhái bằng quả trứng tí hon

Lại toan cố sức bằng con bò vàng

Ngậm hơi, cổ bạnh, bụng trương

Kêu: Chị em đến xem tường cho ta

Đã bằng chưa, chị trông, nà!

Bạn rằng còn kém – Nhái đà phồng thêm

Hỏi rằng: Được chửa, chị em?

Đáp rằng: Chưa được, phồng thêm ít nhiều!

Chị ơi còn kém bao nhiêu?

Bạn rằng: – Còn phải phồng nhiều, kém xa!

Tức mình chị nhái oắt ta

Lại phồng bụng quá vỡ ra chết liền

Ở đời lắm kẻ thật điên

Sức hèn lại muốn tranh tiên với người

Dại thay những lối đua đòi

Vinh gì cuộc rượu trận cười mà ganh

Để cho cơ nghiệp tan tành

Mặt trời và ếch nhái

Aux noces d’un tyran tout le peuple en liesse

Noyait son souci dans les pots.

Ésope seul trouvait que les gens étaient sots

De témoigner tant d’allégresse.

Le Soleil, disait-il, eut dessein autrefois

De songer à l’hyménée.

Aussitôt on ouït, d’une commune voix,

Se plaindre de leur destinée

Les citoyennes des étangs.

«Que ferons-nous, s’il lui vient des enfants?

Dirent-elles au Sort: un seul Soleil à peine

Se peut souffrir. Une demi-douzaine

Mettra la mer à sec et tous ses habitants.

Adieu joncs et marais: notre race est détruite;

Bientôt on la verra réduite

A l’eau du Styx. » Pour un pauvre animal,

Grenouilles, à mon sens, ne raisonnaient pas mal.

Dịch

Vua ngược ác một hôm lấy vợ

Cả bàn dân mừng rỡ yến diên

Duy Ê-dốp bảo là điên

Ô hay, lũ ngốc tự nhiên mừng xằng!

Bèn đem chuyện kể rằng khi trước

Vầng Thái dương muốn rước dâu về

Chuôm ao ếch nhái sợ mê

Inh tai chẵng chuộc trong khe dưới ngòi

Than ôi! nếu Mặt trời sinh đẻ

Ếch nhái ta hồ dễ ở yên

Một Mặt trời đã nóng điên

Ví bằng nửa tá bể liền cạn khô

Cá và ếch biết vô đâu ở?

Cói với lau biết nở nơi nao?

Loài ta biết tính thế nào?

Nước nôi khô ráo, sống sao phen này?

Lời nói phải mà hay đáo để!

Ếch khôn ngoan người dễ đã tày

Lừa và chó con

Ne forçons point notre talent;

Nous ne ferions rien avec grâce.

Jamais un lourdaud, quoi qu’il fasse,

Ne saurait passer pour galant.

Peu de gens, que le Ciel chérit et gratifie,

Ont le don d’agréer infus avec la vie.

C’est un point qu’il leur faut laisser,

Et ne pas ressembler à l’Âne de la Fable,

Qui, pour se rendre plus aimable

Et plus cher à son Maître, alla le caresser.

“Comment? disait-il en son âme,

Ce Chien, parce qu’il est mignon,

Vivra de pair à compagnon

Avec Monsieur, avec Madame!

Et j’aurai des coups de bâton!

Que fait-il? il donne la patte;

Puis aussitôt il est baisé.

S’il en faut faire autant afin que l’on me flatte,

Cela n’est pas bien malaisé.”

Dans cette admirable pensée,

Voyant son Maître en joie, il s’en vient lourdement,

Lève une corne toute usée,

La lui porte au menton fort amoureusement,

Non sans accompagner pour plus grand ornement

De son chant gracieux cette action hardie.

“Oh! oh! quelle caresse, et quelle mélodie!

Dit le Maître aussitôt. Holà, Martin bâton!”

Martin bâton accourt; l’Ane change de ton.

Ainsi finit la Comédie.

Dịch

Tài tự nhiên, xin ai chớ ép

Gượng nên công có đẹp mẽ gì?

Mấy đời những đứa ngu si

Làm ra mặt thiệp nó thì nên duyên

Ai cũng mến là “thiên chi phó”

Bẩm sinh ra sẵn có mấy người

Ai tài thì cũng mặc ai

Lừa ngu chuyện nọ là bài dạy khôn

Gã lừa ấy đến hôn ông chủ

Nghĩ thầy ta há phụ không yêu!

Chó kia phỏng lớn bao nhiêu

Ông, bà bữa sớm bữa chiều cho ăn

Lại có lúc quá thân hôn hít

Lại có khi quấn quít xoa đầu

Trò vè phỏng có chi đâu

Chỉ giơ chiếc vó, gâu gâu một hồi

Đùa bỡn có thế thôi mà quý

Còn ta đây động tí thì đòn

Rầy ta há lại không khôn

Cũng là như rứa phỏng còn khó chi

Nhân thấy chủ đang khi đắc ý

Lừa ta bèn rủ rỉ đến bên

Móng chân cùn cụt đưa lên

Vuốt cằm ông chủ mà rên một hồi

Chủ vội thét: Lừa toi! Quái lạ!

Đem gậy đây, sửa gã một phen

Nói rồi cầm gậy đả liền

Để lừa rối rít như điên như cuồng

Thế là thôi hết tấn tuồng

Lừa mang xương thánh

Un baudet chargé de reliques

S’imagina qu’on l’adoroit:

Dans ce penser il se carroit,

Recevant comme siens l’encens et les cantiques.

Quelqu’un vit l’erreur, et lui dit:

Maître baudet, ôtez-vous de l’esprit

Une vanité si folle ;

Ce n’est pas vous, c’est l’idole

À qui cet honneur se rend,

Et que la gloire en est due.

D’un magistrat ignorant

C’est la robe qu’on salue.

Dịch

Một con lừa lưng mang hòm sắc

Thấy người tôn đã chắc tôn ta

Vênh vang bộ mặt giở ra

Chấp lễ chấp bái như là thần đây

Có người kia lầm này biết ý

Bảo lừa: – Đừng nghĩ thế mà sai

Hợm đâu có hợm lạ đời!

Ai tôn đâu chú, chú đòi lên cân

Người lễ bái là cầu ông thánh

Sự anh linh uy mãnh của ngài

Quan mà dốt đặc vô tài

Thì dân lạy cái áo ngoài mà thôi

Lừa đội lốt sư tử

De la peau du Lion l’Âne s’étant vêtu

Etait craint partout à la ronde,

Et bien qu’Animal sans vertu,

Il faisait trembler tout le monde.

Un petit bout d’oreille échappé par malheur

Découvrit la fourbe et l’erreur.

Martin fit alors son office.

Ceux qui ne savaient pas la ruse et la malice

S’étonnaient de voir que Martin

Chassât les Lions au moulin.

Force gens font du bruit en France

Par qui cet apologue est rendu familier.

Un équipage cavalier

Dịch

Con lừa kia đội da sư tử

Khắp một vùng tưởng dữ đều kinh

Tuy rằng là vật đáng khinh

Mà ai cũng sợ oai linh con lừa

Rủi phải khi tai thò một mẩu

Lòi ngay ra điên đảo khi man

Chó kia chạy đuổi sủa ran

Làm cho ai nấy nổi cơn tức cười

Cách giả hình mấy người đã biết

Thấy mãnh sư chạy riết trong đồng

Thì ai cũng lấy lạ lùng

Mãnh sư để chó đuổi cùng thế nhưng?

Xét lắm kế lẫy lừng trong cõi

Cũng chẳng qua giả dối như lừa

Nghênh ngang hống hách gió mưa

Chẳng qua đội lốt để lừa người ngây

Trên đây, Thuvientho.com đã chia sẻ đến bạn những trang thơ dịch đặc sắc của nhà thơ Nguyễn Văn Vĩnh. Qua đây, chúng ta thêm phần ngưỡng mộ ngòi bút tài hoa cùng độ am hiểu ngôn ngữ xuất chúng của ông. Mời các bạn đón xem phần 4 vào một ngày gần nhất nhé! Thân Ái!

Xem Thêm:Nhà thơ Nguyễn Văn Vĩnh cùng những thi phẩm dịch vang danh phần 2

Theo Thuvientho.com

Check Also

Những bài thơ hay về hoa cúc họa mi

Những bài thơ hay về hoa cúc họa mi

Hoa cúc họa mi còn được gọi là hoa cúc dại hay là hoa cúc …