Home / Chùm thơ chọn lọc / Nhà thơ Tản Đà và những bài thơ xuất sắc để đời phần 4

Nhà thơ Tản Đà và những bài thơ xuất sắc để đời phần 4

Nhà thơ Tản Đà và những bài thơ xuất sắc để đời phần 4

Ngay từ khi còn nhỏ nhà thơ Tản Đà đã bộc lộ được năng khiếu văn chương của chính mình. Chính vì vậy ở cái tuổi ấu thơ ông cũng đã được đánh giá cao. Sở dĩ có điều này bởi gia đình ông cũng có truyền thống khoa cử lại được người anh là Nguyễn Tái Tích tận tình chỉ dạy. Từ 14 tuổi ông đã thạo các lối từ, chương, thi, phú và 15 tuổi đã nổi tiếng là thần đồng của tỉnh Sơn Tây. Chính vì vậy dưới đây chúng tôi sẽ cung cấp cho bạn các bài thơ hay nhất của nhà thơ này.

Nội dung bài viết

Lên sáu

Sách quốc ngữ

Chữ nưóc ta,

nhả

Đều phải học.

Miệng thì đọc

Tai thì nghe

Chớ ngủ nhè

Chớ láu táu

Con lên sáu

Đang vỡ lòng

Học cho thông

Thầy khỏi mắng.

Trong trời đất

Nhất là người

Ở trên đời

Hơn giống vật

Con bé thật

Chưa biết gì

Còn ngu si

Phải dạy bảo

Cho biét đạo

Mới nên thân

Sau lớn dần

Con sẽ khá

Ai đẻ ta

Cha cùng mẹ

Bồng lại bế

Thương và yêu

Ơn nhường bao

Con phải ngẫm

Áo mặc ấm

Mẹ may cho

Cơm ăn no

Cha kiếm hộ

Cha mẹ đó

Là hai thân

Hai thân là

Là thân nhất

Trong trời đất

Không ai hơn

Con biết ơn

Nên phải hiếu

Nghĩa

Đạo làm con

Con còn non

Nên học trước

Đi một bước

Nhớ hai thân

Con còn nhỏ

Có mẹ cha

Lúc vào ra

Được

Con còn bé

Mẹ hay chiều

Thấy mẹ yêu

Chớ làm nũng

Đã đi học

Phải cho ngoan

Hay quấy càn

Là chẳng hiếu.

Con còn bé

Mẹ hay lo

Ăn muốn cho

Lại sợ độc

Con ốm nhọc

Mẹ lo thương

Tìm thuốc thang

Che nắng gió

Con nghĩ đó

Sao cho ngoan

Hay ăn càn

Là chẳng hiếu

Anh em ruột

Một mẹ cha

Mẹ đẻ ra

Trước sau đó

Cùng máu mủ

Như tay chân

Nên yêu thân

Chớ ganh tị

Em coi chị

Cũng như anh

Trước là tình

Sau có lễ

Người trong họ

Tổ sinh ra

Ông đến cha

Bác cùng chú

Họ nội đó

Là tông chi

Cậu vả dì

Về họ mẹ

Con còn bé

Nên dạy qua

Còn họ xa

Sau mới biết

Người trong họ

Có bề trên

Lạ hay quen

Đều phải kính

Có khách đến

Không được đùa

Ai cho quà

Đừng lấy vội

Ông bà gọi

Phải dạ thưa

Phàm người nhà

Không được hỗn

Con bé dại

Mãi vui chơi

Muốn ra người

Phải chăm học

Miệng đang đọc

Đừng trông ngang

Học dở dang

Đừng có chán

Học có bạn

Con dễ hay

Mến trọng thầy

Học chóng biết

Dậy con biết

Phép vệ sinh

Ăn quả xanh

Khó tiêu hoá

Uống nước lã

Có nhiều sâu

Áo mặc lâu

Sinh ghẻ lở

Mặt không rửa

Sinh u mê

Đang

Càng phải giữ

Các giống vật

Thật là nhiều.

Như con hươu

Ở rừng cỏ

Như con chó

Nuôi giữ nhả

Con ba ba

Loài máu lạnh

Loài có cánh

Như chim câu

Còn loài sâu

Như bọ róm

Cây và cỏ

Có khác loài

Trông bề ngoài

Cũng dễ biết

Như cây mít

Có nhiều cành

Lúa,. cỏ gianh

Có từng đốt

Còn trong ruột

Lại khác nhau.

Vài nămn sau

Con biết kỹ

Đá bờ sông

Không sống chết

Không có biết

Không có ăn

Không người lăn.

Cứ nằm đây

Như đá cuội

Như đá xanh

Như mảnh sành

Như đất thó

Các vật đó

Theo loài kim

Các loài kim

Tìm ở đất

Nhất là sắt

Nhì là đồng

Làm đồ dùng

Khắp trong nước

Như vàng bạc

Càng quý hơn

Đúc lảm tiền

Để mua bán.

Ai có vạn

Là người giàu.

Vốn xưa là

Nhà Hồng Lạc

Nay tên nước

Gọi Việt Nam

Bốn nghìn năm

Ngày mở rộng

Nam và Bắc

Ấy hai miền

Tuy khác tên

Đất vẫn một

Lào, Miên, Việt

Là Đông Dương

Đầu trị nước

Đức Kinh dương

Truyển Hùng Vương

Mười tám chúa

Qua mấy họ

Quân Tàu sang

Vua Đinh hoàng

Khai nghiệp đế

Trải Đinh, Lý

Đến Trần, Lê

Nay nườc ta

Là nước Việt

Chữ nước ta

Ta phải học

Cho trí óc

Ngày mở mang

Muốn vẻ vang

Phải làm lụng

Đừng lêu lổng

Mà hư thân

Nước đang cần

Người tài giỏi

Cố học hỏi

Để tiến nhanh

Vừa ich mình

Vừa lợi nước

Chớ lùi bước

Lả kẻ hèn

Lên tám

Các giống trong trời đất

Giống người là hơn nhất

Chủ trương mặt địa cầu

Sai dùng hết muôn vật

Ta sinh làm giống người

Bố mẻ đẻ ra đời

Ăn ngon, mắc áo ấm

Sướng hơn hết mọi loài.

Lắm lúc ta ngồi nghĩ

Thật cũng không biết nghĩa

Bé đại như chúng ta

Tại sao mà sướng nhỉ?

Ta nghĩ mãi không ra

Ta về hỏi mẹ cha

Nghĩa ấy ta đã hỏi

Hôm qua thầy bảo ta.

Rằng xưa giống người này

Cũng như loài chim cây

Chỉ hơn có óc tốt

Một ngày khôn một ngày.

Xem thêm:  Tập Thơ Chữ Hán vang danh của nhà thơ Hồ Chí Minh phần 4

Khôn dầu bởi tự học

Thực mạnh ở công học

Tổ tiên ta

Học mãi thực

Sự học đủ mọi đường

Óc khôn ngày mở mang

Tài đức hai bề tiến

Hơn hẳn loài chim muông.

Ấy khác người các nước

Nghìn vạn năm về trước

Cho nên ta ngày nay

Bé dại mà sung sướng.

Sung sướng như chúng ta

Thực là nhờ ông cha

Giếng sâu mạch nước tốt

Cây cao bóng rợp xa.

Nước giếng uống đỡ khát

Bóng cây ngồi râm mát

Ơn cây mong càng cao

Ơn giếng mong đừng cạn.

Ta ơn sự học này

Như giếng lại như cây

Ông cha để lại đó

Ta mong ngày càng hay.

Ấy khắp người trong nước

Mong hay hay chửa được

Chúng ta còn trẻ thơ

Sự thường nên biết trước.

Trước hết hai thân ta

Hai thân là mẹ cha

Cha mẹ cùng sinh đẻ

Thân ta từ đấy ra.

Tiếng khóc mới ra đời

Tai mắt đã nên người

Kinh hoàng thay lòng mẹ

Lo mừng biết mấy mươi!

Ba tháng con biếy lẫy

Ba tuổi con biết chạy

Thân con trong ba năm

Lòng mẹ lo áy náy.

Thân con mẹ lo cho

Thân mẹ, mẹ không lo

Mẹ rét con thường ấm

Mẹ đói con thường no.

Thân con đà ấm no

Lòng mẹ chưa hết lo

Lo sầu thay lòng mẹ

Gang thước ai lường đo!

Con ngã, lòng mẹ đau

Con khóc lòng mẹ sầu

Thân con liền ruột mẹ

Con thơ nào biết đâu!

Thân mẹ, mẹ coi thường

Thân con quý như vàng

Mẹ sốt dầm mưa gió

Con sốt đà thuốc thang

Thân con còn nhỏ bé

Lòng mẹ khôn xiết kể

Thân con như tôm cua

Lòng mẹ như sông bể.

Sông bể chưa là đâu

Cha mẹ ân tình sâu

Nuôi con mới lên tám

Mừng con còn về sau.

Như lúa còn con gái

Xanh xanh bên đường cái

Cha mẹ mong

Một mai sẽ gặt hái.

Như chim vừa vỡ bọng

Lông cánh đương sinh mọc

Cha mẹ mong cho con

Một mai sẽ bay bổng.

Mong con được nên đời

Mong con được nên người

Cha mẹ mua bút giấy

Cho con đi học ngoài.

Cơm áo cha mẹ lo

Bút giấy cha mẹ cho.

Một con được đi học

Hai thân bao công phu.

Công nuôi nhờ mẹ cha,

Công học thầy dạy ta

Sách vở vô cùng tận

Nghĩa lý còn sâu xa.

Sâu thẳm bể đại dương

Xa thẳm con đường trường

Sự học từ đâu trước

Trước nhất từ luân thường.

Luân thường ta phải hiểu

Làm người ấy là đạo

Ta học đạo làm người

Mở đầu nên biết hiếu

Chữ hiếu đạo làm con

Cha mẹ ta biết ơn

Ơn cha cùng ơn mẹ

Như bể và như non.

Tưởng đến non cùng bể

Nghĩ lại ơn cha mẹ

Khó thay chút tình con.

Lấy gì đem giả nghĩa?

Bể rộng non thời cao

Ơn ấy biết nhường bao

Khó thay một đạo hiếu

Báo hiếu nên làm sao?

Đạo hiếu rộng như bể

Một đời con chửa dễ

Chúng ta còn trẻ thơ

Thầy bảo sao hay thế.

Ở nhà cùng hai thân,

Ra vào quanh dưới chân.

Đem lòng một tấc cỏ

Báo đáp cùng ba xuân.

Ba xuân như mẹ cha

Tấc cỏ như thân ta,

Nhờ xuân, cỏ xanh tốt,

Có cỏ xuân vui hoà.

Ta nay như cỏ xuân,

Ngày ngày chơi trước sân.

Nghĩ sao trong tấc dạ,

Cho vui lòng hai thân.

Khi vui nào được mấy

Lo buồn như dễ thấy,

Cha lo con nên thương,

Mẹ buồn con chớ quấy.

Ta xem lòng mẹ cha

Ta suy làm lòng ta.

Quần áo mặc nên tiếc

Vui bạn đừng chơi xa.

Trèo cao hay ngã đau

Cảm nắng thường ốm lâu

Thân ta của cha mẹ

Ta phải thường lo âu.

Ta nay còn trẻ thơ,

Chưa cho cha mẹ nhờ.

Cha mẹ lúc sai bảo,

Vui vẻ con dạ thưa.

Đạo hiếu rộng như bể,

Thân ta còn nhỏ bé.

Nhớn lên mong về sau,

Trọn hiếu cùng cha mẹ

Suy lòng hiếu mẹ cha

Ở với anh em ta

Anh em, chị em ruột

Cha mẹ cùng sinh ra.

Giọt máu cùng chung nhau

Anh trước, em thời sau.

Thân hình khác dầu khác,

Xương thịt đau cùng đau.

Ta nghĩ tình thịt xương,

Không như người đi đường.

Vốn đã cùng cha mẹ

Nên biết cùng yêu thương.

Yêu nhau nhường miếng ăn,

Thương nhau nhường áo chăn,

No ấm không là mấy

Thơm thảo biết bao tình.

Anh em tình không xa

Sinh trưởng trong một nhà.

Như lan và như cúc,

Một chậu bao cành hoa.

Ta xem hoa có giống,

Lan lan và cúc cúc,

Cùng giống hoa cùng hương.

Cây tốt hoa chen chúc

Hoa cúc và hoa lan,

Vinh hoa trong thế gian

Hoa tốt cây thêm quý

Hoa nhiều, hương càng hơn.

Anh em trong một nhà

Thân tình như chậu hoa

Ở sao cho hữu ái

Cho vui lòng mẹ cha.

Ai sinh ra mẹ cha

Trên có ông bà ta.

Bên nội và bên ngoại,

Xem thêm:  Bài thơ Có phải mùa thu Hà Nội – Nhà thơ Nguyễn Đình Huân

Nguồn gốc gần không xa.

Nội ngoại họ hai chi

Chú, thím, cô,cậu, dì,

Anh em con chú bác

Tình nghĩa cùng sâm si.

Tôn trưởng trong họ hàng

Thầy bạn trong nhà trường

Vào ra phảiu lễ kính

Ấy cùng trong luân thường.

Thông minh trời đất sinh

Học đạo để sửa mình.

Luân thường không lớn bé,

Chúng ta đừng coi khinh!

Sự học từ luân thường

Suy ra khắp mọi đường

Đức hạnh cùng trí thức,

Nghĩa lý hoà văn chương.

Cha mẹ công khó nhọc,

Sinh con cho đi học

Con hay cha mẹ vinh

Hư hèn cha mẹ nhục.

Con nghĩ đến mẹ cha

Sao cho hơn người ta.

Học hành phải chăm cố,

Ăn ở cho nết na.

Tài đức nổi thanh danh,

Ngu ác thiên hạ khinh

Phần hơn ta phải chọn,

Giữ nết, chăm học hành.

Học sách phải quý sách

Sách vở giữ cho sạch.

Tờ giấy bao công phu,

Chúng ta đừng để rách,

Học thầy, biết ơn thầy,

Có thầy ta mới hay.

Nghĩa lý không ,

Ai trỏ con đường ngay?

Học thầy vui có bạn,

Đua bạn,m học không chán,

Bạn hiền, ta kính yêu,

Bạn dở đừng thân thiết.

Thầy dạy ta biết ơn

Tư ich có bạn hiền,

Công học không ai giúp,

Siêng năng từ ta hơn.

Chúng ta tuổi còn xanh

Tính trời đang thanh minh.

Lúc học không cố học,

Đến sau rồi ăn năn.

Ta xem bao nhieu người,

Dở dang hư một đời,

Nào phải chất óc kém,

Bởi xưa không học, lười.

Tư chất ai không tốt,

Học lười ai cũng dốt.

Thông minh chưa vững hay,

Siêng năng là sự cốt.

Ngày tháng như chim bay,

Nên nghĩ mà lo thay.

Một mai ta lớn tuổi,

Khó học hơn ngày nay.

Sự học trọng đức hạnh

Người hay như ngọc sạch

Nung đúc nhờ núi sông,

Mài rũa nên hiền thánh.

Hiền thánh cũng là người,

Đức hạnh hay hơn đời,

Người xưa nào có mấy,

Quý báu trên trần ai.

Trần ai ai khác ai,

Cùng nhau cùng mắt tai.

Có đức nên hiền thánh,

Vô hạnh đời mỉa mai.

Ta nay cũng là người,

Tai mắt đứng trong đời.

Có học theo hiền thánh,

Không để thế gian cười.

Đi xa từ bước gần,

Lên cao từ dưới chân.

Thánh hiền ta muốn học,

Đức nhỏ nên theo dần.

Bụng dạ quý ngay thẳng,

Giao tiếp trọng tin thực.

Lúc vắng như lúc đông,

Giữ gìn theo phép tắc.

Lòng nhân ta sẵn có

Rộng yêu thương kẻ khó.

Cây non chớ bẻ cành,

Chim non đừng hại tổ.

Việc nghĩa ta nên làm,

Cử nghĩa it khi nhầm.

Thuyền sông theo bánh lái,

Tàu bể kim chỉ nam.

Phẩm hạnh trọng liêm sỉ

Liêm sỉ không ty bỉ

Vật ngoài ta không tham,

Tính trời ta biết quý.

Liêm sỉ thành thanh cao,

Phẩm giá hơn nhường bao.

Thanh cao như ngọc núi,

Ty bỉ như bùn ao.

Cảnh ngộ ta coi thường

Ăn mặc không cầu sang,

Giá trọng ở phẩm hạnh,

Thân đẹp nhờ văn chương.

Văn chương thiên hạ quý

Chữ nghĩa sinh hoa mỹ

Văn hay ý vị hương,

Bốn bể cùng thanh khí.

Sự học trọng trí thức,

Cao xa không cùng cực

Văn hoá thông đông tây,

Báo chí truyền tin tức.

Thánh triết đời đời sinh,

Trí thức ngày ngày tinh.

Việc học chia khoa loại,

Chuyên khoa cùng giảng minh.

Thiên văn cùng Địa lý,

Toán pháp cùng Cách trí.

Lịch sử cùng Hoạ đồ

Triết lý cùng Chánh trị.

Học cao có chuyên khoa,

Học thường nên biết qua,

Học thường ta hằng học,

Chuyên khoa rồi sau ra.

Học thường là phổ thông

Gây thành tư cách chung.

Dầu biết chưa là mấy,

Có học hơn người không.

Không học như mọi rợ

Có mắt như không mở,

Đời người như đi đêm,

Trí thức như đèn lửa.

Ta xem bao nhiêu người,

Không học ngu một đời.

Ấy cũng cùng tai mắt

Tôi tớ cho người sai.

Có học có khôn biết

Trí khôn học có tiến,

Bước lên đường văn minh,

Một mai theo thánh triết.

Sự học trọng nghĩa lý

Có học có suy nghĩ

Nghĩa lý không biết suy

Học vấn như vô vi.

Sách vở chúng ta học,

Mắt trông, miệng thời đọc.

Chữ sách ở ngoài thân,

Nghĩa lý vào trong óc.

Nhờ óc ta thông minh,

Nhờ học, óc càng tinh,

Có học không biết nghĩa,

Như óc không thần kinh.

Nghĩa lý không cùng kỳ

Càng học càng tinh vi.

Thánh triết là ngu dốt

Hơn nhau vì biết suy.

Học vấn có từng bước

Nghĩa lý có sau trước

Nghĩa học từ thân ta,

Suy nhà ra đến nước.

Ba phần đất nước nhà

Hai nhăm triệu dân ta.

Giang sơn cùng máu mủ

Quanh quản gần không xa.

Lạng Sơn đến Hà Tiên

Men bể giải đất liền.

Trung phần gánh ở giữa

Nam, Bắc đèo hai bên.

Hai nhăm triệu dân ta,

Người nước như người nhà.

Dẫu khác cha mẹ đẻ

Nhưng cùng ông Tổ xa.

Tổ ta gọi Hồng Bàng,

Họ ta giống da vàng.

Hai mươi lẻ năm triệu

Xem thêm:  Lỡ thì - Vũ Thị Huyền

Con cháu vua Hùng vương.

Kể từ vua Hùng vương

Tên nước gọi Văn Lang

Sai sứ sang nước Bắc,

Ngoại giao xưng Việt Thường.

Dân ta đời Hồng hoang

Văn hoá từ Tàu sang.

Thi thư nhờ Sĩ Nhiép

Canh nông nhờ Tích Quang.

trải dâu bể

Anh hùng ba bảy kẻ

Họ Đinh vua Tiên hoàng.

Cờ lau khai nghiệp đế.

Trần, Lý, nối Lê, Đinh

Văn trị ngày quang minh.

Văn hay, võ càng mạnh,

Phá Tống, khai Chiêm Thành.

Trần mất, giặc Minh sang,

người chủ trương.

Vua Lê ra phục nước,

Non xanh nổi áo vàng.

Vận nước có thay chuyển,

Mệnh trời mở Hoàng Nguyễn.

Nam Bắc thống dư đồ,

Đời đời vua đại Việt.

Phong hội vừa mở mang

Đường bể thông tây dương.

Mưa Âu hoà gió Á,

Người Pháp tự Tây sang.

Người Pháp gọi “Lãng Sa”

Mong liên hiệp cùng ta.

Vàng trắng dẫu khác giống,

Nhân loại là một nhà.

Dân ta may gặp bước,

Lãnh đạo có nhà nước.

Thấm thoắt không bao năm,

Quang cảnh rồi hơn trước.

Kẻ học, người canh nông,

Người buôn, kẻ bách công.

Nhân cách có tiến hoá,

Dân trí ngày khai thông.

Bốn nghìn năm nước cũ

Hai nhăm triệu dân số.

Một mai rồi văn minh,

Trăm sự nhờ Quốc Tổ.

Cuộc đời buổi đua chen,

Người hơn giúp người hèn,

Dắt nhau lên Đài múa

Ơn người, ta chớ quên.

Ta ơn người dắt ta,

Ta thương nòi giống nhà.

Đoàn kết cùng tiến bjước

Văn minh đường không xa.

Đường xa không ngại chi,

Vui đàn ta cứ đi.

Một bước lại một bước,

Đến nơi rồi có khi.

Đường xa đi lại khó

Dắt tay có đàn lũ.

Văn minh mong đến nơi,

Vẻ vang cho nước Tổ.

Nước tổ bốn nghìn năm,

Việt Thường tức Việt Nam.

Người nước hai nhăm triệu,

Yêu nước phải đồng tâm.

Ta xem loài vật nhỏ,

Ngậm ngùi ta tưởng mộ

Ong, kiến biết họp đàn,

Chim, sâu còn luyến tổ.

Có nước không biết yêu,

Không bằng chim cùng sâu.

Có đàn không biết họp

Ong kiến hơn ta nhiều.

Có nước ta có đàn,

Sống còn trên thế gian.

Họp đàn yêu lấy nước,

Đoàn thể luyến giang san.

Chúng ta có nước tổ

Loài giống ngày sinh tụ

Hai nhăm triệu thành đàn,

Quây bọc giang sơn cũ.

Kẻ học, người canh nông,

Người buôn,kẻ bách công.

Nghiệp khác, đàn không khác.

Cùng giống, đàn cùng chung.

Cùng giống ta cùng đàn,

Họp đàn yêu giang san.

Đàn họp, nước không yếu.

Nước mạnh đàn không tan.

Ba kỳ Nam Bắc Trung,

Hai nhăm triệu một lòng.

Đoàn kết không chia rẽ,

Văn minh mở Lạc Hồng.

Lạc hồng nước tổ ta,

Giang sơn cùng cỏ hoa.

Thống nhất và độc lập

Văn minh đường không xa.

Ta trông đường văn minh,

Muôn nước cùng đua tranh.

Lòng ta yêu nước tổ,

Mong nước xiết bao tình.

Văn minh trông đường trước,

Chan chứa tình mong nước.

Mong nước ta cùng yêu,

Yêu nước cùng ao ước.

Thân ta, ta yêu ta,

Trước nên yêu nước nhà.

Thân ta ở trong nước,

Có nước thân vinh hoa.

Thân vinh nhờ nước tổ

Sức mạnh cậy đàn ta.

Hai nhăm triệu dân ta,

Đàn họp sức không nhỏ.

Họp đàn, ta nghĩ sao?

Cùng loài thương lấy nhau.

Đầu xanh đến tóc bạc,

Ghi dạ chữ “đồng bào”

Hay hèn cùng hay hèn,

Cùng nhau đừng ghét ghen.

Giang sơn cùng gánh vác,

Cuộc đời cùng đua chen.

Hăm nhăm triệu dân ta,

Họp lòng mong nước nhà.

Đoàn kết không đảng phái,

Văn minh gần không xa.

Họp đàn cùng mong nước

Cốt tự thân ta trước.

Cây cao nên rừng to,

Giếng trong từ mạch nước.

Đức sáng như nước trong

Tài nhớn cao ngất không.

Tài đức không hư kém,

Đàn, nước cùng trông mong.

Nhờ đức ta họp đàn,

Tài họp, nước khôn ngoan.

Có tài ta có đức

Đua chen cùng thế gian.

Óc khôn giời cho ta

Sự học nhờ ông cha.

Siêng năng nên tài đức.

Ngày xuân chớ nhãng qua.

Chúng ta đương ngày xuân

Việc học nên chuyên cần.

Lúc bé cố chăm học,

Mai sau rồi nên thân.

Thân ta nên tài đức

Nhân cách ấy là trước.

Tuỳ tài theo nghiệp làm,

Góp mặt cùng dân nước.

Nghiệp sĩ, nghiệp canh nông,

Nghiệp buôn, nghiệp bách công.

Sang hèn thuận cảnh ngộ,

Có nghiệp hơn ngồi không.

Giàu sang cùng hiển vinh,

Nghèo hèn thơm thanh danh.

Báo hiếu dẫu chưa đủ,

Không phụ công sinh thành.

Trên đây là những bài thơ hay của Tản Đà. Đa phần thơ của ông được viết theo thể tự do và mạch chi phối rất lớn đến phong cách thơ ca nên có thể thấy một điều rằng, thơ của ông có độ dài ngắn khác nhau. Tuy nhiên qua đó ta cũng sẽ dễ dàng trong việc cảm nhận được những góc nhìn nhận của nhà thơ về cuộc đời và nhân tình thế sự. Đừng quên đón đọc những bài viết tiếp theo để tìm hiểu những bài thơ hay của ông bạn nhé!

Theo Thuvientho.com

Check Also

nhung bai tho ngan hay ve hoa dac sac nhat 310x165 - Những bài thơ ngắn hay về hoa đặc sắc nhất

Những bài thơ ngắn hay về hoa đặc sắc nhất

Trong thế giới tự nhiên có muôn vàn loài hoa khác nhau. Mỗi loài hoa …