Home / Chùm thơ chọn lọc / Tập thơ Dòng Nước Ngược của nhà thơ Tú Mỡ hay và ấn tượng nhất phần 2

Tập thơ Dòng Nước Ngược của nhà thơ Tú Mỡ hay và ấn tượng nhất phần 2

Tập thơ Dòng Nước Ngược của nhà thơ Tú Mỡ hay và ấn tượng nhất phần 2

Tú Mỡ thực sự nổi tiếng từ năm 1932, khi giữ mục dòng nước ngược cho báo Phong Hoá. Cái xã hội thuộc địa nửa phong kiến thời Tú Mỡ đầy rẫy những lố lăng kệch cỡm, đạo đức giả. Ông cảm nhận được tất cả và đã giữ lại trong thơ mình như một tang chứng sống của thời cuộc. Những trang thơ của ông với ngòi bút hiện thực vừa chúc vừa chửi vô cùng ấn tượng. Nếu bạn yêu thích nhà thơ này thì hãy cùng Thuvientho.com theo dõi nhé!

Khai bút rông

Là văn sĩ chẳng lẽ không khai bút

Chẳng hay ho cũng nặn nọt một bài

Ngót hai năm xổng bút mỉa mai đời

Thì Tết đến cũng phải có bài thơ… rắc rối

Rót thêm mực, thay ngòi bút mới

Thảo mấy dòng cảm khái sau đây

Thơ rằng:

Tú chi tú ấy nực cười thay!

Chẳng phải Nho mà chẳng phải Tây!

Rửng mỡ trêu đời, văn mách qué

Thế mà cũng tiếng… bấy lâu nay!

Ngồi ngâm nga, đùi rung chuyển nghế mây

Rồi chép lại, rắp thả ngay “Giòng nước ngược”

Bắt chước cụ Tú Xương thủa trước

Hỏi mợ Tú rằng: “Nghe được hay chăng?”

Bĩu môi, mẹ đĩ phê rằng

“Nôm na mắch qué, lố lăng, ngược đời!”

Đầu năm đã bị rông rồi

Chắc là văn viết ngược đời quanh năm!

Khuyên ai kén vợ

I

Lấy vợ khuyên ai kén vợ hiền

Kén người đức hạnh, bậc chân chuyên

Tốt duyên gặp được người như nguyện

Giá nọ nhà vàng đúc cũng nên

II

Lấy vợ khuyên ai kén vợ soàng

Cần chi giầu có với quan sang

Quý hồ nội trợ tề gia giỏi

Cái cảnh gia đình mới vẻ vang

III

Lấy vợ khuyên ai cốt chữ tình

Xin đừng vụ lợi, chớ ham danh

Mấy người tiểu kỷ vì danh lợi

Khó trọn cùng nhau nghĩa tử sinh

IV

Lấy vợ không nên kén vợ giầu

E rằng ỷ của lại khinh nhau

Hổ thay! cái tiếng nhờ lưng vợ!

Tiếng ấy anh hùng há chịu đâu!

V

Lấy vợ không nên lấy ả đầu

Hoa tàn, nhị rữa, tiết còn đâu

Chỉ quen nghề nghiệp nhà son phấn

Chẳng trách phương ngôn đã có câu…!

VI

Lấy vợ không nên lấy vợ nhiều

Một bà thôi cũng đủ thương yêu

Ai về nhắn nhủ phường tham thịt

Cả lẽ làm chi, tổ ỷ eo…!

Kiệu bay

Đám rước làng ta đã tới đền

Vía bà động cỡn, tốc bay lên

Các cô chân kiệu siêu lơ chạy

Mấy mụ đồng quan lẽo đẽo rên

Pháo đốt, nhang bay mù đảo địa

Con công, cái bán lễ huyên thiên

Thánh bà mới biết linh thiêng thật

Gặp cái ô tô, kiệu đứng liền!

Kinh tế khủng hoảng phú

Ghê thay nạn kinh tế!

Ghê thay nạn kinh tế!

Nguyên bởi từ đâu?

Hại sao đến thế!

Trong vạn quốc, từ nhỏ đến to

Khắp muôn dân, cả lớn lẫn bé

Cũng băn khoăn vì tài chính lung lay

Đều nhăn nhó bởi bán buôn tắc bế

Làm ăn lủng củng, dưới con dân khôn nỗi xoay xu

Xuất nhập hụt hao, trên nhà nước khó đường thu thuế

Hạng quan lại đang ăn tiêu rộng rãi, cũng cắn răng vâng lệnh sụt lương

Bọn sinh viên vừa thi đỗ vênh vang, đành bấm bụng đóng vai vô nghệ

Sĩ đã buồn tênh

Nông càng quẫn tệ

Mừng được năm hoà cốc phong đăng

Rủi gặp lúc thông thương đình trệ

Tiền hòm rỗng tuếch, lấy chi mà nộp thuế, nộp sưu

Thóc vựa chứa chan, lo để đấy mọc mầm, mọc rễ

Bởi nông phu tiền thiếu gạo thừa

Nên thương mại khách thưa hàng ế

Buôn thua bán lỗ, hiệu nhỏ to vỡ nợ đùng đùng

Mượn quịt vay lường, kẻ hơn thiệt kiện nhau chí choé

Nhà kỹ nghệ hàng không trôi chẩy, giảm bớt nhân công

Bọn thợ thuyền việc ít nằm khàn, khó tìm sinh kế

Việc tuy không sẵn, miệng vẫn phải ăn

Gạo chẳng ai cung, hàm không nhẽ trễ

Túng phải tính liều

Đói đâm ê trệ

Nẩy nòi trộm cướp, khó giữ cho yên

Vỡ tổ ăn mày, cứu sao cho suể

Kinh tế khủng, ái tình cũng khủng, lo ế chồng phụ nữ chổng mông gào

Sự nghiệp suông, loan phụng đành suông, hoãn lấy vợ nam nhi quay mặt… kệ!

Cả đến sóm hoa đưa liễu đón, vừa độ nào anh yến sôn sao

Cũng trải phen phách mốc đàn meo, nay đã thấy làng chơi vắng vẻ

Nghĩ cũng lo thay

Nguy khôn xiết kể

Mới trong ít độ, tứ dân đà tấn tới rật lùi

Cứ thế này lâu, nhân loại sẽ văn minh tắc tị

Chấn hưng kinh tế, hỏi ai nào đại thánh ra tay?

Cứu vãn tiền đồ, còn đợi có phúc tinh giáng thế

Xem thêm:  Bài thơ Khi Người Bên Tôi – nhà thơ Phú Sĩ

Mề đay

Ông phán cành cạch mươi năm nay

Mà được bốn, năm chiếc mề đay

Những khi tết nhất hoặc yến tiệc

Ông đeo trước ngực hai dẫy đầy

Cái bạc, cái vàng, đủ các hạng

Này cái “Cao-mên”, cái “Vạn Tượng”

Này cái “Danh dự”, cái “Rồng Nam”

Thiên hạ trông vào thực là choáng

Ông hỏi tôi rằng: “Cớ làm sao

Tôi cũng đi làm, chức cũng cao

Chẳng xin lấy độ răm mười chiếc

Để dương danh giá với đồng bào?”

Thưa ông: Tôi đây cũng vẫn biết

Huy chương nhà nước là quý thiệt!

Để thưởng công lao kẻ tận tâm

Khuyến khích lòng người cho được việc

Tôi tự xét tôi đứa bất tài

Công danh sự nghiệp chẳng bằng ai

Chỉ biết đi, về ngày bốn buổi

Cuối tháng lĩnh lương mang về nhai

Nếu ông không phải người lỗi lạc

Nếu cũng như tôi, như kẻ khác

Mà cũng được một mớ huy chương

Tôi xin chịu ông người quái quắc

Dám xin hỏi ông: “Sự trạng gì?

Hoặc là cứu khổn với phò nguy

Hoặc là hi sinh vì nghĩa vụ

Hoặc là… hoặc là… cái chi chi?”

Mỡ mà chẳng… mỡ

Tặng bạn Nam Hương

(Thơ thất ngôn thập nhị cú)

Tú Mỡ, nghe tên rõ chướng phè

Làm thiên hạ tưởng béo xù ghê

Chẳng thua cụ Ỷ lườn nung núc

Cũng hệt ông Vâm bụng lặc lè

*

Mà hoá người thon như cái nhái

Té ra mình sác tựa con ve

Đôi hàng sườn sụn da căng sát

Hai hũm quai xanh nước đỏ be

Màu mỡ vì chưng ra cả bút

Thân hình nên mới ngẳng như que

Tú này béo mép, người không béo

Há phải như ai tướng lợn xề…!

Xem thêm:  Bài Thơ Đừng Buồn – Tác Giả Dương Hoàng

Mười thương

Một thương tóc lệch đường ngôi,

Hai thương quần trắng, áo mùi, khăn san.

Ba thương hôm sớm điểm trang,

Bốn thương răng ngọc hai hàng trắng phau.

Năm thương lược Huế cài đầu,

Sáu thương ô lục ngả màu thanh thiên.

Bảy thương lắm bạc nhiều tiền,

Tám thương động tí nữ quyền giở ra.

Chín thương cô vẫn ở nhà,

Mười thương… thôi để mình ta thương mình…

Nhắn nhủ ông nghị

Áo sa, khăn nhiễu, giầy ban

Kính trắng gọng vàng, tay cắp cặp da

Ấy là ông nghị vùng ta

Súng sa súng sính đi ra hội đồng

Mấy lời nhắn nhủ cùng ông

Có ra hội đồng thì miệng phải to

Xin đừng khúm núm co ro

Nói không ra tiếng họ cho rằng đần

Cũng đừng ngẩn mặt tần ngần

Ngồi nghe diễn thuyết ngủ dần thiu thiu

Ông cụ non

Nhớ thuở còn hàn vi,

Chửa nên danh phận gì.

Trí anh to tát lạ,

Chẳng thẹn tiếng nam nhi.

Bàn tính những công cuộc,

Lợi dân cùng ích nước.

Lưu danh cùng núi sông,

Mới thoả lòng ao ước.

Nay ngoáp chiếc lương to,

Yên thân được ấm no.

Đã quăng chí nguyện cũ,

Khối óc như thò lò.

Nghiễm nhiên mặt trưởng giả,

Thờ chủ nghĩa nhàn hạ,

Đội mũ ni che tai,

Việc đời thây kệ cả!

Ngày bốn buổi đi về,

Ăn no lại ngủ khè.

Ngoài câu truyện bếp nước,

Chắng thiết để tai nghe.

Làm bạn với non bộ,

Uốn cành cây cổ thụ.

Hết trưa lại đến chiều,

Lẩn thẩn như ma xó.

Uống rượu rồi ngâm thơ,

Say sưa khéo phỡn phờ.

Khác chi đồ cổ hủ,

Xác sống mà hồn mơ.

Người ta khi phú quý,

Càng phải phấn tâm trí.

Anh mới nếm phong lưu,

Cớ sao vội chết dí!

Non bộ kia nên xếp,

Chơi gì cảnh nhỏ hẹp.

Nọ giang sơn Việt Nam,

Mới thật là xinh đẹp.

Túi thơ thắt lại thôi,

Nậm rượu quẳng cho rồi.

Cái thứ đùi rung nẩy,

Chờ khi sáu bảy mươi.

Ông nghị đi hội đồng về

Ông ơi, ông đi đâu về

Có vẻ phỡn phè, phấn chấn hỡi ông?

Rằng tôi đi họp hội đồng

Mỗi năm một bận, hết lòng vì dân

Gật gù, nghe đọc diễn văn

Vì dân giáng sức mấy lần vỗ tay

Trăm công, nghìn việc, nặng thay!

Vì dân nên phải đêm ngày miên man

Bao chương dự toán luận bàn

Vì dân sái cổ gật tràn đòi phen

Nhờ trời công việc đã yên

Vì dân phải xuống Khâm Thiên giải sầu

Quản gì thức mấy đêm thâu

Vì dân khai trí mấy chầu tổ tôm

Mỗi năm vất vả mươi hôm

Một bầu nhiệt huyết vẫn ôm kè kè

Phụ bạc

Nhớ xưa còn thủa hàn vi

Chàng thời đi học, thiếp đi chạy hàng

Sớm hôm đầu đội vai mang

Yên phận bần hàn, kiếm gạo nuôi nhau

Lần hồi bữa cháo bữa rau

Chàng lo học tập mai sau thành tài

Công danh tiến bước kịp người

Mở mặt với đời, thiếp cũng hiển vinh

Bây giờ chàng đã nên danh

Chê thiếp vụng dại, nỡ đành phụ công

Khi nghèo còn vợ còn chồng

Đến khi phú quí, chồng đông, vợ đoài

Quan phán

Rất sang quan phán đầu toà

Ngất ngưởng xe nhà, chân bắt chéo khoeo

Ắn chơi xa xỉ đến điều

Đêm đêm nhà hát, chiều chiều cao lâu

Ở nhà mặc cảnh túng, sầu

Vợ, con, cha, mẹ cơm rau là thường

Chầu rượu quan chi cực sang

Tiền nuôi cha mẹ cưa gan từng đồng

Trời đầy Nguyễn Khắc Hiếu

Trong phòng khách cụ Trời

Cậu nhỏ dâng văn bôi

Xẩy tay đánh rơi vỡ

Nguyễn Khắc Hiếu ra đời

Từ khi Hiếu xuất thế

Vẫn nhớ cảnh thiên tiên

Bữa cơm thường phải rượu

Nhưng túi lại rỗng tiền

Liền xoay nghệ văn chương

Viết bừa bán phố phường

Thơ chay tha hồ uống

Say khướt suốt đêm trường

Rượu ngon thức nhắm ngon

Giọng văn lại càng giòn

Khối tình con, tình lớn

Giấc mộng lớn, mộng con.

Thích chí nằm ngâm nga

Tiếng động vang Ngân Hà

Trời hỏi: “Ai ngâm thế?”

Muôn tâu: Ấy Tản Đà!

Trời nổi trận lôi đình

Rằng: “Cái thằng tiên ranh

Ta đầy xuống hạ giới

Cho hắn chịu nhục hình

Ai ngờ hắn vẫn nhàn

Ngày tháng ngâm thơ tràn

Các người ai có cách

Bắt hắn phải gian nan?”

Chư tiên đồng thanh nói:

“Tội nặng nhất trần phàm

Là bắt anh Khắc Hiếu

Làm chủ báo An Nam”

Nhà thơ Tú Mỡ được đông đảo bạn đọc yêu thích bởi ngòi bút hiện thực sắc sảo gây ấn tượng mạnh mẽ đến độc giả. Những trang thơ của ông thường châm biếm và đả kích những thứ kệch cỡm trong xã hội. Mời các bạn đón xem phần 3 vào ngày không xa nhé! Thân Ái!

Xem Thêm:Tập thơ Dòng Nước Ngược của nhà thơ Tú Mỡ hay và ấn tượng nhất phần 1

Theo Thuvientho.com

Check Also

Những bài thơ hay về hoa cúc họa mi

Những bài thơ hay về hoa cúc họa mi

Hoa cúc họa mi còn được gọi là hoa cúc dại hay là hoa cúc …