Thề nguyền – Nguyễn Du

62
Thề nguyền – Nguyễn Du
Thề nguyền – Nguyễn Du

Bài thơ Thề nguyền trích trong tác phẩm Truyện Kiều của tác giả Nguyễn Du kể về cảnh hai người Thúy Kiều và Kim Trọng gặp gỡ tại nhà trọ của Kim Trọng và cùng nhau thề nguyền gắn bó trăm năm dưới vầng trăng vằng vặc giữa trời.

Vào dịp đi chơi tiết Thanh minh cùng hai em, Thuý Kiểu dã gặp Kim Trọng, bạn của Vương Quan. Chỉ trong thoáng chốc: Người quốc sắc, kẻ thiên tài, Tình trong như đã, mặt ngoài còn e. Tình yêu kì lạ giữa họ bắt đầu nảy nở từ đây.

Sau lần gặp gỡ đầu tiên trong thanh mộng, Kim Trọng đi tìm nhà trọ học gần cạnh nhà Thúy Kiều cốt để tìm gặp lại nàng. Hai người đã gặp gỡ, trao kỉ vật làm tin. Một hôm, khi cả gia đình sang chơi bên ngoại, Kiều đã tìm gặp Kim Trọng. Chiều tà, nàng trở về nhà, được tin cả nhà vẫn chưa về, nàng quay lại gặp chàng. Hai người đã làm lễ thề nguyền gắn bó trước vầng trăng vằng vặc…

the nguyen nguyen du - Thề nguyền - Nguyễn Du

Bài thơ Thề nguyền – Nguyễn Du

Cửa ngoài vội rủ rèm the,
Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình.
Nhặt thưa[1] gương[2] giọi đầu cành,
Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh[3] hắt hiu.
Sinh vừa tựa án[4] thiu thiu,
Dở chiều như tỉnh dở chiều như mê.
Tiếng sen[5] sẽ động giấc hè,
Bóng trăng đã xế hoa lê[6] lại gần.
Bâng khuâng đỉnh Giáp non thần[7].
Còn ngờ giấc mộng đêm xuân .
Nàng rằng: “Khoảng vắng đêm trường,
Vì hoa nên phải trổ đường tìm hoa.
rõ mặt ,
Biết đâu rồi nữa chẳng là ?”
Vội mừng làm lễ rước vào,
Đài sen[8] nối sáp lò đào[9] thêm hương.
Tiên thề[10] cùng thảo một chương,
Tóc mây[11] một món dao vàng[12] chia đôi.
Vừng trăng vằng vặc giữa trời,
Đinh ninh hai miệng một lời song song.
Tóc tơ[13] căn vặn tấc lòng,
Trăm năm tạc một chữ đồng[14] đến xương.

[1] Nhặt thưa: (nhặt: mau, dày) chỉ ánh trăng chiếu xuyên qua lá cây tạo thành những khoảng sáng không đều nhau, chỗ sáng nhiều chỗ sáng ít.
[2] Gương: ở đây chỉ mặt trăng.
[3] Trướng huỳnh: xưa có người nhà nghèo không có đèn để , phải bắt đom đóm làm đèn học. Do đó, trướng huỳnh được dùng chỉ phòng học của nho sinh, đồng thời gợi ý hiếu học. Cả câu ở đây ý nói: nhìn từ bên ngoài vào thấy ánh sáng đèn từ phòng học của Kim Trọng lọt ra dìu dịu.
[4] Án: cái bàn học xưa.
[5] Tiếng sen: tiếng bước chân nhẹ nhàng của người đẹp.
[6] Hoa lê: hoa cây lê, ở đây chỉ người đẹp.
[7] Đỉnh Giáp non thần: bài Phú Cao Đường của Tống Ngọc kể rằng vua nước Sở chơi đất Cao Đường nằm mơ thấy một người đẹp, hỏi ở đâu, người đó nói là thần nữ núi Vu Giáp. Non thần: thần núi ấy. Cả câu có nghĩa là Kim Trọng cảm thấy Kiều xuất hiện như là thần nữ của núi Vu Giáp.
[8] Đài sen: cái đài hình hoa sen để đặt cây nến.
[9] Lò đào: cái lò hương hình trái đào. Cả câu ý nói Kim Trọng đặt thêm nến sáp cho thêm sáng, thắp thêm hương cho thêm thơm.
[10] Tiên thề: (tiên: tờ giấy) tờ giấy viết lời thề.
[11] Tóc mây: như mây.
[12] Dao vàng: chỉ con dao quý, cũng có thể đây chỉ là phép tu từ thuần tuý khi tả con dao mà Kiều và Kim Trọng dùng để thề nguyền, giống như trường hợp bút hoa, lệ hoa, thềm hoa,…
[13] Tóc tơ: chỉ những điều chi li, tỉ mỉ.
[14] Chữ đồng: chữ đồng tâm, đồng lòng.

Một hôm, khi cả sang chơi bên ngoại, Kiều đã tìm gặp Kim Trọng. Chiều tà, nàng trở về nhà, được tin cả nhà vẫn chưa về, Kiều quay lại gặp Kim Trọng. Hai người đã làm lễ thề nguyền gắn bó trước vầng trăng sáng vằng vặc. Đoạn trích sau đây (từ câu 431 đến câu 452) kể về việc Kiều sang nhà Kim Trọng và làm lễ thề nguyền.


Xem thêm:  Một nỗi niềm xưa - Tế Hanh

Bình luận bài viết

avatar
  Nhận thông báo qua email  
Nhận thông báo cho