Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ – Đặng Trần Côn

20

Bài thơ Tình cảnh của người chinh phụ trích tác phẩm Chinh phụ ngâm của tác giả miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi , buồn khổ ở người chinh phụ chờ chồng nơi quê nhà luôn khát khao được sống trong tình yêuhạnh phúc .

Đầu đời vua Lê Hiền Tông có nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra quanh kinh thành Thăng Long, triều đình cất quân đánh dẹp. Đặng Trần Côn “cảm thời thế mà làm ra”.

Bài thơ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ – Đặng Trần Côn

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác (1) đòi phen.
Ngoài rèm thước (2) chẳng mách tin,
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?

Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn (3) kia với bóng người khá thương.

Gà eo óc gáy sương năm trống (4),
Hòe (5) phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền xa.

Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
Gương gượng soi lệ lại châu chan.
Sắt cầm (6) gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên (7) kinh đứt phím loan (8) ngại chùng.

Lòng này gửi gió đông (9) có tiện?
Nghìn vàng (10) xin gửi đến non Yên (11).
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.

Xem thêm:  Phố - Đoàn Minh Hằng

Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
chàng đau đáu nào xong.
Cảnh buồn người thiết tha (12) lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.

(Theo Những khúc ngâm chọn lọc, NXB , , 1994)

Chú thích:

(1) Rủ: buông xuống. Thác: cuốn lên. Rủ thác đòi phen: buông xuống cuốn lên nhiều lần.

(2) Thước: chim khách, được coi là loài chim báo tin lành – có khách đến, người đi xa trở về.

(3) Hoa đèn: đầu bấc đèn dầu đã cháy thành than nhưng lại được nung đỏ lên trông như hoa.

(4) Năm trống: năm canh (một đêm có năm canh).

(5) Hòe: cây hòe.

(6) Sắt cầm: đàn cầm và đàn sắt gảy hòa âm với nhau, thường được dùng để ví cảnh vợ chồng hòa thuận. Gượng gảy đàn sắt đàn cầm vì chinh phụ đang trong cảnh cô đơn.

(7) Dây uyên: nguyên văn “uyên ương huyền” – dây đàn uyên ương. Một giống chim, uyên: chim trống, ương: chim mái, thường đi với nhau. “Uyên ương” là biểu tượng cho lứa đôi gắn bó, hòa hợp. Ở đây ý nói sợ làm đứt dây đàn uyên ương vì có thể báo hiệu điều không may (xưa gọi là sái) của tình cảm vợ chồng.

(8) Phím loan: nguyên văn “loan phượng trụ” – phím đàn loan phượng. Phượng: chim trống, loan: chim mái. Loan phượng cũng là biểu tượng về lứa đôi gắn bó. Ở đây ý nói sợ dây đàn chùng là điềm gở, gợi nên sự không may mắn của lứa đôi đang xa nhau.

Xem thêm:  Hòn đá - Hồ Chí Minh

(9) Gió đông: (đông phong) xuân.

(10) Nghìn vàng: lòng thương nhớ, trân trọng quý như nghìn vàng.

(11) Non Yên: núi Yên Nhiên. Đậu Hiến đời Hậu Hán đuổi giặc Bắc Thiền Vu đến núi Yên Nhiên, khắc đá ghi công ở đó rồi trở về. Ở đây có nghĩa là nơi chiến trận ngoài biên ải xa xôi.

(12) Thiết tha: (cắt, mài) ở đây có nghĩa là đau đớn.

Bình luận bài viết

avatar
  Nhận thông báo qua email  
Nhận thông báo cho