Home / Những chùm thơ chọn lọc hay nhất / Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh cùng chùm thơ dịch của Petőfi Sándor phần 2

Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh cùng chùm thơ dịch của Petőfi Sándor phần 2

Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh cùng chùm thơ dịch của Petőfi Sándor phần 2

Nguyễn Xuân Sanh được ví như một luồng gió mới thổi mát vào nền thơ ca Việt Nam. Ở ông có một tâm hồn thi sĩ đầy lãng mạn cùng khát khao đổi mới phong cách thơ của mình. Ông cũng như nhiều nhà thơ khác sở hữu một chùm thơ dịch vang danh của những nhà thơ nổi tiếng trên thế giới. Đến nay, những thi phẩm của ông vẫn vẹn nguyên giá trị đến ngày nay

Nội dung bài viết

16

Ment János vitézzel a megindult gálya,

Szélbe kapaszkodott széles vitorlája,

De sebesebben ment János gondolatja,

Utjában semmi sem akadályozhatta.

János gondolatja ilyenforma vala:

“Hej Iluskám, lelkem szépséges angyala!

Sejted-e te mostan, milyen öröm vár rád?

Hogy hazatart kinccsel bővelkedő mátkád.

Hazatartok én, hogy végre valahára

Sok küszködés után legyünk egymás párja.

Egymás párja leszünk, boldogok, gazdagok;

Senki fiára is többé nem szorulok.

Gazduram ugyan nem legszebben bánt velem;

Hanem én őneki mindazt elengedem.

S igazság szerint ő oka szerencsémnek:

Meg is jutalmazom, mihelyt hazaérek.”

Ezt gondolta János s több ízben gondolta,

Mialatt a gálya ment sebes haladva;

De jó messze volt még szép Magyarországtól,

Mert Franciaország esik tőle távol.

Egyszer János vitéz a hajófödélen

Sétált föl s alá az est szürkületében.

A kormányos ekkép szólt legényeihez:

“Piros az ég alja: aligha szél nem lesz.”

Hanem János vitéz nem figyelt a szóra,

Feje fölött repült egy nagy sereg gólya;

Őszre járt az idő: ezek a madarak

Bizonyosan szülőföldéről szálltanak.

Szelíd epedéssel tekintett utánok,

Mintha azok neki jó hírt mondanának,

Jó hírt Iluskáról, szép Iluskájáról,

S oly régen nem látott kedves hazájáról.

Dịch

Thuyền chở Giăng Dũng sĩ cứ lênh đênh

Buồm căng to bám vào sức gió

Nhưng tâm trí Giăng còn đi nhanh hơn thuyền đó

Không có gì ngăn cản bước anh đi

Tâm trí Giăng suy nghi thế này:

” I-lu-sơ-ca, I-lu, thiên thần tuyệt mĩ

Em làm gì? Hạnh phúc ta em có thấy?

Em có biết người yêu em về nước, đầy vàng?

Anh trở về nước một lần cuối cùng

Chúng ta có nhau sau bao nỗi khổ

Chúng ta là của nhau, tâm đồng, hạnh phúc, giàu có

Vì anh là chủ nhân các việc tốt anh làm

Ông chủ anh có thể đối với anh tốt hơn

Anh là nạn nhân của ông ta, nhưng anh tha thứ

Ta nên thật thà: nhờ ông ta mà anh có vận khá

Ông ta sẽ được thưởng khi anh về”

Đó những điều Giăng nghĩ lại nghĩ đi

Khi thuyền lướt nhanh trên sóng

Nhưng cũng không về nước Hung được chóng

Vì nước Pháp xinh đẹp ở cách khá xa

Một hôm Giăng Dũng sĩ trên sân tàu

Đi dọc đi ngang khi bóng chiều rơi xuống

Người quản thuyền nói: “Các con ơi, chân trời đỏ óng

Nếu ta không nhầm thì sẽ có gió to”

Giăng Dũng sĩ không chú ý nghe

Anh đứng nhìn đàn sếu

Sắp đến thu và đàn chim ấy

Chắc bay từ đất nước quê hương

Nhìn sếu bay, anh thở ra nhẹ nhàng

Như đàn chim mang đến nhiều tin sung sướng

Tin của I-lu, của I-lu xinh xắn

Và tin quê nhà từ lâu

17

Másnap, amint az ég alja jövendölte,

Csakugyan szél támadt, mégpedig nem gyönge.

Zokogott a tenger hánykodó hulláma

A zugó fergeteg korbácsolására.

Volt a hajó népe nagy megijedésben,

Amint szokott lenni olyan vad szélvészben.

Hiába volt minden erőmegfeszítés,

Nem látszott sehonnan érkezni menekvés.

Sötét felhő is jön; a világ elborúl,

Egyszerre megdördül az égiháború,

Villámok cikáznak, hullnak szanaszerte;

Egy villám a hajót izről porrá törte.

Látszik a hajónak diribje-darabja,

A holttesteket a tenger elsodorja.

Hát János vitéznek milyetén sors jutott?

Őt is elsodorták a lelketlen habok?

Hej biz a haláltól ő sem volt már messze,

De mentő kezét az ég kiterjesztette,

S csodálatos módon szabadította meg,

Hogy koporsója a habok ne legyenek.

Ragadta őt a víz magasra, magasra,

Hogy tetejét érte már a felhő rojtja;

Ekkor János vitéz nagy hirtelenséggel

Megkapta a felhőt mind a két kezével.

Belekapaszkodott, el sem szalasztotta,

S nagy erőlködéssel addig függött rajta,

Mígnem a felhő a tengerparthoz ére,

Itten rálépett egy szikla tetejére.

Először is hálát adott az istennek,

Hogy életét ekkép szabadította meg;

Nem gondolt vele, hogy kincsét elvesztette,

Csakhogy el nem veszett a kinccsel élete.

Azután a szikla tetején szétnézett,

Nem látott mást, csupán egy grifmadár-fészket.

A grifmadár épen fiait etette,

Jánosnak valami jutott az eszébe.

Odalopózkodott a fészekhez lassan

És a grifmadárra hirtelen rápattan,

Oldalába vágja hegyes sarkantyúját,

S furcsa paripája hegyen-völgyön túlszállt.

Hányta volna le a madár nyakra-főre,

Lehányta volna ám, ha bírt volna véle,

Csakhogy János vitéz nem engedte magát.

Jól átszorította derekát és nyakát.

Ment, tudj’ az isten hány országon keresztül;

Egyszer, hogy épen a nap az égre kerül:

Hát a viradatnak legelső sugára

Rásütött egyenest faluja tornyára.

Szent isten! hogy örült ennek János vitéz,

Az öröm szemébe könnycseppeket idéz;

A madár is, mivel szörnyen elfáradt már,

Vele a föld felé mindinkább közel jár.

Le is szállott végre egy halom tetején,

Alig tudott venni lélekzetet szegény,

János leszállt róla és magára hagyta,

És ment, elmerűlve mély gondolatokba.

“Nem hozok aranyat, nem hozok kincseket,

De meghozom régi hűséges szívemet,

És ez elég neked, drága szép Iluskám!

Tudom, hogy nehezen vársz te is már reám.”

Ily gondolatokkal ért a faluvégre,

Érintette fülét kocsiknak zörgése,

Kocsiknak zörgése, hordóknak kongása;

Szüretre készűlt a falu lakossága.

Nem figyelmezett ő szüretre menőkre,

Azok sem ismertek a megérkezőre;

A falu hosszában ekképen haladott

A ház felé, ahol Iluskája lakott.

A pitvarajtónál be reszketett keze,

S mellében csakhogy el nem állt lélekzete;

Benyitott végtére – de Iluska helyett

Látott a pitvarban idegen népeket.

“Tán rosz helyen járok” gondolta magában,

És a kilincs megint volt már a markában…

“Kit keres kegyelmed?” nyájasan kérdezte

János vitézt egy kis takaros menyecske.

Elmondotta János, hogy kit és mit keres…

“Jaj, eszem a szívét, a naptól oly veres!

Bizony-bizony alighogy reáismértem,”

Szólott a menyecske meglepetésében.

“Jőjön be már no, hogy az isten áldja meg,

Odabenn majd aztán többet is beszélek.”

Bevezette Jánost, karszékbe ültette,

S így folytatta ismét beszédét mellette:

“Ismer-e még engem? nem is ismer talán?

Tudja, én vagyok az a kis szomszédlány,

Itt Iluskáéknál gyakran megfordúltam…”

“Hanem hát beszéljen csak: Iluska hol van?”

Szavaiba vágott kérdezőleg János,

A menyecske szeme könnytől lett homályos.

“Hol van Iluska, hol?” felelt a menyecske,

“Szegény Jancsi bácsi!… hát el van temetve.”

Jó, hogy nem állt János, hanem űlt a széken,

Mert lerogyott volna kínos érzésében;

Nem tudott mást tenni, a szívéhez kapott,

Mintha ki akarná tépni a bánatot.

Igy űlt egy darabig némán merevedve,

Azután szólt, mintha álmából ébredne:

“Mondjatok igazat, ugye hogy férjhez ment?

Inkább legyen férjnél, mintsem hogy odalent.

Akkor legalább még egyszer megláthatom,

S édes lesz nekem e keserű jutalom.”

De a menyecskének orcáján láthatta,

Hogy nem volt hazugság előbbi szózata.

Dịch

Như trời đã báo trước, hôm sau

Gió thổi lên không phải cơn gió nhẹ

Nghe xôn xao tiếng gầm sóng bể

Bão to quất mạnh lên đại dương

Như thường khi có gió thổi tung

Thủy thủ trên thuyền vô cùng sợ sệt

Cố gắng bao nhiêu cũng là bỏ hết

đâu, cũng hết cả ước mong

Ngày xám xịt dưới mây đen

Bão đến. Rập rờn sấm dội

Cả bốn bề dọc ngang chớp lóe

Một cơn sét phang gãy nát cột buồm

Đó đây trôi những mảnh thuyền

Trên sóng biển bập bềnh xác chết

Nhưng Giăng ra sao trong cơn bão thét?

Anh phải chăng là mồi lũ sóng bất nhân?

Ta có thể nói anh thấy cái chết rất gần

Nhưng trời chìa cho anh cứu vớt

Và kỳ diệu kéo anh ra ngoài cái chết

Không muốn anh bị sóng biển bọc vải tang

Lên cao, lên cao, lên cao biển dâng

Đám mây viền cũng không xa đầu ngọn sóng

Thấy là làm, anh Giăng anh dũng

Bám chắc hai tay vào một đám mây

Anh cố bám anh không buông tay

Lấy hết sức mình đeo mây cho chắc

Cuối cùng thì mây về mặt đất

Anh thả tay rơi xuống ngọn núi đá xanh

Anh vội cám ơn Chúa Trời đã cứu anh

Nhờ cách đó giữ cho anh cuộc sống

Vàng bạc đã mất đi anh không cần lắm

Đẹp nhất là không mất quý hơn bạc vàng

Rồi dạo mắt trên ngọn núi đá xanh

Anh không thấy gì khác ngoài con đại bàng trong ổ

Chim đại bàng đang nhả mồi cho con nó

Một kế mới nảy mầm trong óc anh Giăng

Anh leo nhẹ nhàng lên ổ đại bàng

Nhảy xổ lên lưng chim không nói

Gót sắt thúc vào lưng chim dữ dội

Và con chim kỳ lạ bay qua núi qua thung

Xem thêm:  Bài thơ Tình mẹ như một dòng sông – Nhà thơ Nguyễn Đình Huân

Con chim muốn làm sao đổ bộ anh Giăng

Hắn muốn đổ bộ anh Giăng xuống lắm

Nhưng đâu dễ thế. Anh Giăng ngăn hắn

Ôm không rời lưng khỏe với cổ chim

Và đi như thế, qua bao nước bao miền

Đến một ngày kia, tia nắng sáng

Mặt trời chân mây chói rạng

Trên làng anh lanh lảnh tiếng chuông nhà thờ

Đức Chúa Trời! Giăng Dũng sĩ vui sao!

Đến nỗi hai mắt anh rơi lệ

Con chim đại bàng ta mệt lả

Rơi tầng cao và đưa xuống đất anh Giăng

Hết cả hơi, gần chết, con vật đáng thương

Hạ cánh giữa một khu đồi trên đỉnh

Giăng đứng xuống đất, bỏ chim cho số phận

Và rời xa, suy nghĩ miên man

“Anh vẫn nghèo không, anh không đem bạc vàng

Nhưng đem về cho em trái tim trung thành hứa hẹn

Em I-lu thân yêu, thế là đủ lắm

Em chờ anh lâu mới nhìn thấy lại anh!”

Nghĩ như vậy, anh vừa đến những ngôi nhà

Xe cộ ồn ào, tai anh nghe rõ

Và tiếng vang vang những thùng đựng rượu

Trong làng sắp sửa gặt mùa nho

Nhưng Giăng không chú ý những kẻ đi làm mùa

Không một ai làm anh mới về chú ý

Anh đi theo đường dài khắp xã

Và đến nhà đã ở I-lu

Đây cái cổng. Run run anh đặt tay

Và ngập ngừng anh thấy hơi khó thở

Anh nhất quyết, anh bước vào; không phải

Không phải I-lu mà toàn những khuôn mặt không quen

Anh tự nhủ: “Có lẽ tôi nhầm”

Anh đưa tay vặn cửa

Một người trẻ đẹp hỏi Giăng lễ độ:

“Xin anh cho biết anh muốn tìm ai?”

Giăng Dũng sĩ cho biết anh muốn kiếm gì

Người đàn bà trẻ ngạc nhiên bỗng nói:

“Ôi Giăng thân mến, người anh đen lại!

Tôi nhận ra anh cũng rất khó khăn

Mời anh vào, mong Chúa ban phép lành cho anh

Vào đây! Tôi sẽ nói với anh nhiều chuyện

Chị đưa Giăng vào và ngồi đối diện

Chị tiếp tục câu chuyện như sau:

“Anh nhớ tôi không? Chắc chẳng nhớ nào!

Anh nhìn tôi, tôi con gái nhà bên cạnh

Ngày nào tôi cũng đến đây, với I-lu người bạn”

“Được rồi, nhưng I-lu đâu, chị nói đi!”

Anh vừa nóng nảy thốt mấy lời

Cô bạn trẻ hai mắt bỗng đầy nước mắt

Cô bạn trả lời: “Anh hỏi I-lu đâu mất?

Ôi, anh Giăng, chị đã nằm mồ!”

Giăng đang ngồi. Tốt lắm, vì nghe lời cô

Nếu anh đứng thế nào anh cũng ngã

Anh chỉ có thể đưa lên ngực bàn tay co lạnh giá

Như để bứt nỗi đau thương

Anh đứng lặng giây lâu, mắt ngắm trừng trừng

Rồi anh nói, như mới vừa tỉnh mộng:

“Giấu làm chi? Cô lấy chồng rồi, cô đúng?

Tôi thích thế hơn, và mong cô sống ở đời

Tôi có thể thăm lại cô, một lần nữa thôi!

Ôi phần thưởng đắng cay! Ôi nỗi đau quý giá!”

Nhưng nét mặt cảm thương người bạn trẻ

Đủ chứng tỏ cô nói không sai

18

János reáborult az asztal sarkára,

S megeredt könnyének bőséges forrása,

Amit mondott, csak úgy töredezve mondta,

El-elakadt a nagy fájdalomtól hangja:

“Miért nem estem el háború zajában?

Miért a tengerben sírom nem találtam?

Miért, miért lettem e világra, miért?

Ha ily mennykőcsapás, ilyen gyötrelem ért!”

Kifáradt végre őt kínozni fájdalma,

Mintha munkájában elszenderűlt volna,

“Hogy halt meg galambom? mi baj lett halála?”

Kérdé, s a menyecske ezt felelte rája:

“Sok baja volt biz a szegény teremtésnek;

Kivált mostohája kinzása töré meg.

De meg is lakolt ám érte a rosz pára,

Mert jutott inséges koldusok botjára.

Aztán meg magát is szörnyen emlegette,

Jancsi bácsi; ez volt végső lehellete:

Jancsikám, Jancsikám, az isten áldjon meg.

Másvilágon, ha még szeretsz, tied leszek.

Ezek után kimult az árnyékvilágból;

A temetőhelye nincsen innen távol.

A falu népsége nagy számmal kisérte;

Minden kisérője könnyet ejtett érte.”

Kérelemszavára a szíves menyecske

Jánost Iluskája sírjához vezette;

Ottan vezetője őt magára hagyta,

Lankadtan borúlt a kedves sírhalomra.

Végiggondolta a régi szép időket,

Mikor még Iluska tiszta szive égett,

Szíve és orcája – s most a hideg földben

Hervadtan, hidegen vannak mind a ketten.

Leáldozott a nap piros verőfénye,

Halovány hold lépett a napnak helyébe,

Szomorún nézett ki az őszi homályból,

János eltántorgott kedvese hantjától.

Még egyszer visszatért. A sírhalom felett

Egyszerű kis rózsabokor nevelkedett.

Leszakította a virágszálat róla,

Elindult s mentében magában így szóla:

“Ki porából nőttél, árva kis virágszál,

Légy hűséges társam vándorlásaimnál;

Vándorlok, vándorlok, a világ végeig,

Míg kivánt halálom napja megérkezik.”

Dịch

János reáborult az asztal sarkára,

S megeredt könnyének bőséges forrása,

Amit mondott, csak úgy töredezve mondta,

El-elakadt a nagy fájdalomtól hangja:

“Miért nem estem el háború zajában?

Miért a tengerben sírom nem találtam?

Miért, miért lettem e világra, miért?

Ha ily mennykőcsapás, ilyen gyötrelem ért!”

Kifáradt végre őt kínozni fájdalma,

Mintha munkájában elszenderűlt volna,

“Hogy halt meg galambom? mi baj lett halála?”

Kérdé, s a menyecske ezt felelte rája:

“Sok baja volt biz a szegény teremtésnek;

Kivált mostohája kinzása töré meg.

De meg is lakolt ám érte a rosz pára,

Mert jutott inséges koldusok botjára.

Aztán meg magát is szörnyen emlegette,

Jancsi bácsi; ez volt végső lehellete:

Jancsikám, Jancsikám, az isten áldjon meg.

Másvilágon, ha még szeretsz, tied leszek.

Ezek után kimult az árnyékvilágból;

A temetőhelye nincsen innen távol.

A falu népsége nagy számmal kisérte;

Minden kisérője könnyet ejtett érte.”

Kérelemszavára a szíves menyecske

Jánost Iluskája sírjához vezette;

Ottan vezetője őt magára hagyta,

Lankadtan borúlt a kedves sírhalomra.

Végiggondolta a régi szép időket,

Mikor még Iluska tiszta szive égett,

Szíve és orcája – s most a hideg földben

Hervadtan, hidegen vannak mind a ketten.

Leáldozott a nap piros verőfénye,

Halovány hold lépett a napnak helyébe,

Szomorún nézett ki az őszi homályból,

János eltántorgott kedvese hantjától.

Még egyszer visszatért. A sírhalom felett

Egyszerű kis rózsabokor nevelkedett.

Leszakította a virágszálat róla,

Elindult s mentében magában így szóla:

“Ki porából nőttél, árva kis virágszál,

Légy hűséges társam vándorlásaimnál;

Vándorlok, vándorlok, a világ végeig,

Míg kivánt halálom napja megérkezik.”

19

János vitéznek volt utjában két társa:

Egyik a búbánat, amely szívét rágta,

Másik a kardja volt, bedugva hüvelybe,

Ezt a török vértől rozsda emésztette.

Bizonytalan úton ezekkel vándorolt.

Már sokszor telt s fogyott a változékony hold,

S váltott a téli föld szép tavaszi ruhát,

Mikor így szólítá meg szíve bánatát:

“Mikor unod már meg örökös munkádat,

Te a kínozásban telhetetlen bánat!

Ha nem tudsz megölni, ne gyötörj hiába;

Eredj máshova, tán akadsz jobb tanyára.

Látom, nem te vagy az, ki nekem halált hoz,

Látom, a halálért kell fordulnom máshoz.

Máshoz fordulok hát; ti viszontagságok!

Ohajtott halálom tán ti meghozzátok.”

Ezeket gondolta s elhagyta bánatát.

Ez szívéhez vissza most már csak néha szállt,

Hanem ismét eltünt; (mert be volt az zárva,

S csak egy könnycseppet tett szeme pillájára.)

Utóbb a könnyel is végkép számot vetett,

Csupán magát vitte a megunt életet,

Vitte, vitte, vitte egy sötét erdőbe,

Ott szekeret látott, amint belelépe.

Fazekasé volt a szekér, melyet látott;

Kereke tengelyig a nagy sárba vágott;

Ütötte lovait a fazekas, szegény,

A szekér azt mondta: nem mozdulok biz én.

“Adj’ isten jó napot” szólott János vitéz;

A fazekas rútul a szeme közé néz,

S nagy bosszankodással im ezeket mondja:

“Nem nekem… van biz az ördögnek jó napja.”

“Be rosz kedvben vagyunk” felelt neki János.

“Hogyne? mikor ez az út olyan posványos.

Nógatom lovamat már reggeltől kezdve;

De csak ugy van, mintha le volna enyvezve.”

“Segíthetünk azon… de mondja meg kend csak,

Ezen az úton itt vajjon hova jutnak?”

Kérdé János vitéz egy útra mutatva,

Mely az erdőt jobbra végighasította.

“Ezen az úton itt? dejsz erre ne menjen,

Nem mondok egyebet;… odavesz különben.

Óriások lakják ott azt a vidéket,

Nem jött ki még onnan, aki odalépett.”

Felelt János vitéz: “Bízza kend azt csak rám.

Mostan a szekérhez lássunk egymás után.”

Így szólott, aztán a rúd végét megkapta,

S csak tréfamódra a sárból kiragadta.

Volt a fazekasnak jó nagy szeme, szája,

De mégis kicsiny volt az álmélkodásra;

Amire föleszmélt, hogy köszönjön szépen,

János vitéz már jól benn járt az erdőben.

János vitéz ment és elért nemsokára

Az óriásföldnek félelmes tájára.

Egy vágtató patak folyt a határ mellett:

Hanem folyónak is jóformán beillett.

A pataknál állt az óriásföld csősze;

Mikor János vitéz a szemébe néze,

Oly magasra kellett emelnie fejét,

Mintha nézné holmi toronynak tetejét.

Óriások csősze őt érkezni látta.

S mintha mennykő volna, igy dörgött reája:

“Ha jól látom, ott a fűben ember mozog; –

Talpam úgyis viszket, várj, majd rád gázolok.”

De az óriás amint rálépett volna,

János feje fölött kardját föltartotta,

Belelépett a nagy kamasz és elbődült,

S hogy lábát felkapta: a patakba szédült.

“Éppen úgy esett ez, amint csak kivántam.”

János vitéznek ez járt gondolatában;

Amint ezt gondolta, szaladni is kezdett,

S az óriás felett átmente a vizet.

Az óriás még föl nem tápászkodhatott,

Amint János vitéz a túlpartra jutott,

Átjutott és nekisuhintva szablyáját,

Végigmetszette a csősz nyaka csigáját.

Nem kelt föl többé az óriások csősze,

Hogy a rábizott tájt őrző szemmel nézze;

Napfogyatkozás jött szeme világára,

Melynek elmulását hasztalanul várta.

Keresztülfutott a patak vize testén;

Veres lett hulláma vértől befestetvén. –

Hát Jánost mi érte, szerencse vagy inség?

Majd meghalljuk azt is, várjunk csak kicsinnyég.

Xem thêm:  Đường nào lên Thiên Thai - Hồ Đình Phương

Dịch

Giăng Dũng sĩ đem theo hai bạn cùng đi

Một là nỗi sầu đang gặm mòn tâm tưởng

Một là thanh kiếm tốt nằm trong bao đựng

Thanh kiếm mà máu Thổ đang rỉ hoen

Anh đi trên những con đường chưa quen

Hơn một lần trăng đã đầy và đã mất

Thiên nhiên tháng tư đã từng thay áo mặc

Khi anh nói chuyện với nỗi buồn đau:

“Khi nào mi chán một công việc dài lâu

Hỡi nỗi buồn mà thương đau ta không thỏa được?

Tra khảo làm chi nếu mi không thể làm ta chết?

Đi đi, nơi khác mi được việc hơn nhiều

Không, có phải mi làm ta chết được đâu

Không, nếu muốn chết, ta phải tìm nơi khác

Nhưng đâu? Ở đâu cũng đều gian khổ hết!

Có thể ta tìm nơi chúng bay cái chết ngọt ngào”

Giăng lại đi, anh để đấy nỗi buồn đau

Lâu lâu nó cũng có cơ bay mất

Nhưng nhắc làm chi, cửa đà đóng chặt

Nỗi đau ứa lệ trên mi mắt, và tránh đi

Rồi đến lượt Giăng thu xếp cho hạt lệ trên mi

Anh chỉ còn kéo lê tấm thân vô tội

Cho đến lúc gặp bờ khu rừng tối

Ở đấy anh gặp một chiếc xe

Đó là xe của người lò gốm. Trong bùn lê mê

Bánh xe ngập vào đến trục

Ông thợ lò gốm vỗ lưng con ngựa giục

Cái xe lần khân nói: “Tôi ở đây, tôi đứng đây”

Giăng Dũng sĩ: “Chúa Trời chào các ngươi!”

Ông thợ lò gốm nhìn anh cáu kỉnh

Ông nói thêm lòng chưa hết giận:

“Chào ư? Chẳng phải chào ta! mà chào cái xe hư”

Giăng Dũng sĩ: “Tính nết ta tồi”

“Này! đất ở đây sao bùn sũng thế?

“Từ rạng đông tôi ở đây lôi con ngựa

Nhưng hình như nó bị trết vào đó rồi”

“Chúng tôi sẽ đến giúp anh một tay

Nhưng trước hết cho hay đường này đi đâu đó nhỉ”

Giăng hỏi và anh đưa tay chỉ

Con đường đâm thẳng đến lòng rừng

“Đường này? Đi vào đó không yên

Vì… Không nói nữa: vào đây hỏng mất

Đường dẫn vào nơi những người khổng lồ cao ngất

Ai vào đó không còn biết đường về”

Giăng trả lời: “Tôi làm việc của tôi

Giờ đây anh né người qua một chút!”

Anh nói rồi nắm càng xe hất ngược

Anh đẩy bánh xe ra khỏi đống bùn

Ông thợ lò gốm trố mắt há mồm

Nhưng bụng ông lấy làm thỏa mãn

Khi ông muốn ngỏ lời cảm ơn anh bạn

Thì Giăng Dũng sĩ đã mất hút trong rừng xa

Và Giăng đi tìm xứ sở người khổng lồ

Anh đến những vùng núi sông kinh khủng

Ngọn suối trào lên làm biên giới vững

Nhưng với mắt người nên gọi đó con sông

Một khổng lồ đứng sát bên dòng

Giăng Dũng sĩ muốn nhìn người tận mặt

Anh ngẩng đầu lên cao ngất

Như để nhìn một mái đỉnh tháp cao

Người đứng cạnh to lớn nhìn thấy Giăng ta

Và tiếng hắn gọi hung như tiếng sấm:

Trong cỏ ta thấy gì? Một bóng người lay động!

Này! ta ngứa chân đây: chờ ta đạp chà mi!”

Khi thấy người khổng lồ hất bàn chân to

Hai tay Giăng lên trời vung lưỡi kiếm

Đâm người khổng lồ: như con bò con nó rống

Nó quần lên, nó hỏng chân rồi lộn ngược nó rơi

Nhưng nó rơi trong suối mới đáng đời

Người anh hùng nói: “Đó là điều tôi muốn”

Nói xong anh leo lên cái xác lớn

Vượt qua dòng trên chiếc cầu kiểu mới tinh

Người khổng lồ chưa cất được mình

Thì Giăng Dũng sĩ đã qua được bên kia bờ suối

Từ đó phất thanh kiếm dài sáng chói

Anh chặt đứt hẳn cổ tên chó má đáng thương

Hắn không còn dậy được nữa, tên lính canh

Để kiểm soát nơi giao hắn ta kiểm soát

Mắt bị mờ đi không còn như ngọn đuốc

Như một đêm nguyệt thực không hết bao giờ

Nước sông chảy băng qua tấm xác cứng đờ

Máu vẫy, nước sông biến thành đỏ lựng

Dữ hay may số phận của Giăng anh dũng?

Ta rồi sẽ biết: xin cứ đợi chờ

23

János vitéz egy nagy hegy tetején jára,

Hogy a kelő hajnal rásütött arcára.

Gyönyörűséges volt, amit ekkor látott,

Meg is állt, hogy körülnézze a világot.

Haldoklófélben volt a hajnali csillag,

Halovány sugára már csak alig csillog,

Mint gyorsan kiröppent fohász, eltünt végre,

Mikor a fényes nap föllépett az égre.

Föllépett aranyos szekeren ragyogva,

Nyájasan nézett a sík tengerhabokra,

Mik, ugy tetszett, mintha még szenderegnének,

Elfoglalva térét a végtelenségnek.

Nem mozdult a tenger, de fickándoztanak

Sima hátán néha apró tarka halak,

S ha napsugár érte pikkelyes testöket,

Tündöklő gyémántnak fényeként reszketett.

A tengerparton kis halászkunyhó álla;

Öreg volt a halász, térdig ért szakálla,

Épen mostan akart hálót vetni vízbe,

János odament és tőle ezt kérdezte:

“Ha szépen megkérem kendet, öreg bátya,

Átszállít-e engem tenger más partjára?

Örömest fizetnék, hanem nincsen pénzem,

Tegye meg kend ingyen, köszönettel vészem.”

“Fiam, ha volna, sem kéne pénzed nékem,”

Felelt a jó öreg nyájasan, szelíden.

“Megtermi mindenkor a tenger mélysége,

Ami kevésre van éltemnek szüksége.

De micsoda járat vetett téged ide?

Az óperenciás tenger ez, tudod-e?

Azért semmi áron által nem vihetlek,

Se vége, se hossza ennek a tengernek.”

“Az óperenciás?” kiáltott fel János,

“Annál inkább vagyok hát kiváncsiságos;

De már igy átmegyek, akárhová jutok.

Van még egy mód hátra… a sípomba fuvok.”

És megfújta sípját. A sípnak szavára

Egy óriás mindjárt előtte is álla.

“Át tudsz-e gázolni ezen a tengeren?”

Kérdi János vitéz “gázolj által velem.”

“Át tudok-e?” szól az óriás és nevet,

“Meghiszem azt; foglalj a vállamon helyet.

Így ni, most kapaszkodj meg jól a hajamba.”

És már meg is indult, amint ezt kimondta.

Dịch

Trên núi cao Giăng rẽ một lối mòn

Khi bình minh ửng sáng chiếu vào khuôn mặt

Một cảnh mê hồn đập vào con mắt

Giăng dừng chân để ngắm nghía xung quanh

Sao mai sắp lặn trên trời xanh

Nó chỉ còn lờ mờ tia sáng nhỏ

Và khi mặt trời lên cao rực đỏ

Sao mai thở dài và cũng dần phai

Mặt trời tiến lên như đi trên một chiếc xe chói ngời

Mặt trời nhìn quanh bằng cặp mắt thôn dã

Nó dịu dàng như sợ phá tan giấc ngủ

Của biển sóng lặng nhấp nhô

Trên lưng chấp chới của biển xa

Lâu lâu nhảy nhót đàn cá nhiều màu sắc

Mỗi chiếc vảy con khi mặt trời chiếu sát

Là một viên ngọc chói sáng tươi trong

Trên bờ biển là lều một ngư ông

Một người đánh cá già: râu phết gối

Ông già ta sắp tung mảnh lưới

Giăng đến gần và nhờ giúp qua khơi

“Thưa cha, cha có muốn làm cho con vui

Chở con sang bên kia bờ bể

Muốn trả công cha, nhưng không tiền của

Cha giúp không công, lòng mãi ơn cha”

Ông lão bỗng nói êm dịu ngọt ngào:

“Nếu con có tiền thì con cứ giữ

Sóng biển này thường cho cha đầy đủ

Để cha sống thanh bạch cuộc đời

Nhưng sao con đưa chân đến bến này?

Con biết chăng biển này là Biển Phúc

Cha không đưa con qua cho dù giá đắt

Vì lý do là biển rộng không cùng”

Giăng kêu lên: “À! Biển Phúc đây chăng?

Ta lại còn tò mò muốn biết

Phải đi! Dù chưa biết thế nào số kiếp

Ta vẫn còn một cách: thổi còi”

Và Giăng thổi còi. Mới tiếng đầu thôi

Tức khắc một người khổng lồ đã đến

Giăng hỏi: “Anh có thể đi qua biển

Lội chân? Nếu được, mang ta vượt khơi cùng”

Người khổng lồ trả lời: “Có được không?”

Và cười: “Tin là được! Ngồi vai cho vững

Được rồi. Ôm lấy tóc tôi, ngón tay cho cứng”

Nói xong người khổng lồ lội xuống đại dương

Xem thêm:  Bài thơ Quê nhà tôi ơi – Nhà thơ Nguyễn Đình Huân

24

Vitte az óriás János vitézünket;

Nagy lába egyszerre fél mérföldet lépett,

Három hétig vitte szörnyü sebességgel,

De a tulsó partot csak nem érhették el.

Egyszer a távolság kékellő ködében,

Jánosnak valami akad meg szemében.

“Nini, ott már a part!” szólt megörvendezve.

“Biz az csak egy sziget,” felelt, aki vitte.

János ezt kérdezte: “És micsoda sziget?”

“Tündérország, róla hallhattál eleget.

Tündérország; ott van a világnak vége,

A tenger azon túl tűnik semmiségbe.”

“Vigy oda hát engem, hűséges jobbágyom,

Mert én azt meglátni fölötte kivánom.”

“Elvihetlek,” felelt az óriás neki,

“De ott életedet veszély fenyegeti.

Nem olyan könnyű ám a bejárás oda,

Őrizi kapuját sok iszonyú csoda…”

“Ne gondolj te azzal, csak vigy el odáig;

Hogy bemehetek-e vagy nem, majd elválik.”

Szófogadásra igy inté az óriást,

Aki tovább nem is tett semmi kifogást,

Hanem vitte őtet és a partra tette,

És azután utját visszafelé vette.

Dịch

Và cõng theo anh dũng sĩ. Anh bước phăng

Vượt biển xa mỗi bước hàng nửa dặm

Cứ lối đi kỳ ảo ấy cuối cùng một tháng

Hai người còn xa vẫn chưa đến được bờ kia

Một ngày, trong xanh xám phía xa

Một cái gì đập vào mắt Giăng Dũng sĩ

Anh sung sướng la to: “Đất! Đất!”

Người cõng anh nói: “Mới chỉ là đảo, một hòn”

Anh Giăng hỏi: “Hòn đảo gì thế anh?”

“Ngươi có nghe nói về chỗ tận cùng đất?

Đây là xứ sở các nàng tiên, trước mắt

Và biển muôn trùng rơi mất trong hư vô”

“Đem ta đến đó, anh bạn khổng lồ

Đó là cái mà lòng ta muốn thấy”

Người dân trung thành đáp lại:

“Mang Anh đến đó. Nhưng cái chết đợi trên bờ

Đến xứ ấy đâu phải chuyện con thơ

Vì có lũ quỷ kinh hồn canh cửa”

“Ta đã bảo, anh mang ta đến đó

Còn lại là việc ta, có phải việc anh đâu”

Đành phải tuân lệnh trên, anh khổng lồ

Cho đã nói là làm, không bàn nữa

Anh bước lên, đặt Giăng trên bãi bể

Anh quay lưng và anh lui chân

25

Tündérország első kapuját őrzötte

Félrőfös körmökkel három szilaj medve.

De fáradságosan János keze által

Mind a három medve egy lett a halállal.

“Ez elég lesz mára,” János ezt gondolta,

Nagy munkája után egy padon nyugodva.

“Ma ezen a helyen kissé megpihenek,

Holnap egy kapuval ismét beljebb megyek.”

És amint gondolta, akkép cselekedett,

Második kapuhoz másnap közeledett.

De már itt keményebb munka várt ám rája,

Itt őrzőnek három vad oroszlán álla.

Hát nekigyűrközik; a fenevadakra

Ráront hatalmasan, kardját villogtatva;

Védelmezték azok csunyául magokat,

De csak mind a három élete megszakadt.

Igen feltüzelte ez a győzedelem,

Azért, mint tennap, most még csak meg sem pihen,

De letörölve a sűrü verítéket,

A harmadik kapu közelébe lépett.

Uram ne hagyj el! itt volt ám szörnyű strázsa;

Vért jéggé fagyasztó volt rémes látása.

Egy nagy sárkánykígyó áll itt a kapuban;

Elnyelne hat ökröt, akkora szája van.

Bátorság dolgában helyén állott János,

Találós ész sem volt őnála hiányos,

Látta, hogy kardjával nem boldogúl itten,

Más módot keresett hát, hogy bemehessen.

A sárkánykígyó nagy száját feltátotta,

Hogy Jánost egyszerre szerteszét harapja;

S mit tesz ez, a dolog ilyen állásába’?

Hirtelen beugrik a sárkány torkába.

Sárkány derekában kereste a szívet,

Ráakadt és bele kardvasat merített.

A sárkány azonnal széjjelterpeszkedett,

S kinyögte magából a megtört életet.

Hej János vitéznek került sok bajába,

Míg lyukat fúrhatott sárkány oldalába.

Végtére kifurta, belőle kimászott,

Kaput nyit, és látja szép Tündérországot.

Dịch

Có ba con gấu dữ ở ngưỡng cửa đầu tiên

Móng chúng dài như một cánh chỏ

Sau một trận đánh nhau hùng hổ

Giăng để chúng nằm chết ngoẻo trên thềm

“Hôm nay thế là vừa” tự nhủ anh Giăng

Anh ngồi ghế dài sau khi xong việc lớn

“Ta ngồi nơi đây cho đỡ bận

Ngày mai ta sẽ tới cửa thứ hai

Anh nói, anh làm. Hôm sau ngay

Giăng Dũng sĩ bước đến gần cửa tiếp

Nhưng khỉ thay, ở đây còn rất nhọc

Ba con sư tử ác đứng canh

Giăng cởi áo ngoài, nhảy nhót rất xinh

Vút Thanh kiếm sáng lên đầu thú dữ

Ba con vật quặn mình giãy giụa

Nhưng cuối cùng cũng bị chặt phanh thây

Làm xong việc Giăng Dũng sĩ mừng vui

Thôi nghỉ ngơi làm chi hôm qua nữa?

Anh vội vàng lau mồ hôi tuôn đổ

Và nhanh chân bước đến cửa thứ ba ngay

Nhưng trời, lần sau, kẻ canh cửa ghê thay

Nhìn thấy hắn máu trong người đông lại

Đứng trước cửa một con rồng vĩ đại

Mõm nhe to có thể ngoạm sáu con bò

Khi cần thì Giăng cũng vững chí không lo

Nhưng đầu anh cũng dồi dào mưu mẹo

Anh thấy có thanh kiếm trong tay cũng là chưa đủ

Nhưng phải vào. Anh sẽ nghĩ kế sau

Đây con rồng đang há mồm to

Để nuốt một miếng cả anh Giăng Dũng sĩ

Lúc này đây người anh hùng sẽ làm chi đó?

Anh nhảy tót vào cổ họng con rồng

Trong thân quái vật anh tìm trái tim

Anh đâm vào đó toàn thân kiếm thép

Ngay tức khắc von rồng ngã rẹp

Nó thoát vong linh

Anh bạn ta còn muốn làm hơn

Muốn đâm thủng một lỗ vào thân quái vật

Cuối cùng chính anh Giăng đã làm được

Anh ra mở cửa, thấy xứ đẹp các người tiên

26

Tündérországban csak híre sincs a télnek,

Ott örökös tavasz pompájában élnek;

S nincsen ott nap kelte, nap lenyugovása,

Örökös hajnalnak játszik pirossága.

Benne tündérfiak és tündérleányok

Halált nem ismerve élnek boldogságnak;

Nem szükséges nekik sem étel, sem ital,

Élnek a szerelem édes csókjaival.

Nem sír ott a bánat, de a nagy örömtül

Gyakran a tündérek szeméből könny gördül;

Leszivárog a könny a föld mélységébe,

És ennek méhében gyémánt lesz belőle.

Szőke tündérlyányok sárga hajaikat

Szálanként keresztülhúzzák a föld alatt;

E szálakból válik az aranynak érce,

Kincsleső emberek nem kis örömére.

A tündérgyerekek ott szivárványt fonnak

Szemsugarából a tündérleányoknak;

Mikor a szivárványt jó hosszúra fonták,

Ékesítik vele a felhős ég boltját.

Van a tündéreknek virágnyoszolyája,

Örömtől ittasan heverésznek rája;

Illatterhes szellők lanyha fuvallatja

Őket a nyoszolyán álomba ringatja.

És amely világot álmaikban látnak,

Tündérország még csak árnya e világnak.

Ha a földi ember először lyányt ölel,

Ennek az álomnak gyönyöre tölti el.

Dịch

Ở đây, không biết có tên mùa đông

Người ta sống trong mùa xuân vĩnh viễn

Ở đây, không có mặt trời lên, không có lặn

Một bình minh vĩnh viễn làm thấy tất cả là màu hồng

Những cậu trai-tiên, những cô gái-tiên

Hít thở cái vui, không biết bì cái chết

Không cần thức ăn, không cần nước mát

Họ chỉ sống có tình yêu và đằm thắm hôn nhau

Không có lệ đau thương. Nhưng thường một tiên nga

Vì sung sướng quá nên rơi nước mắt

Hạt lệ thấm sâu vào lòng đất

Được ủ lâu ngày và hoá kim cương

Các tiên nga để từng sợi tóc vàng

Từng sợi tóc dài luồn sâu dưới đất

Mỗi sợi thành một vỉa kim khí vàng giá đắt

Làm vui vẻ biết bao người tham

Các cậu trai-tiên thắt một cầu vồng

Với tia mắt trong của bao cô gái

Và khi đã thắt chiều dài vừa phải

Các cậu lấy cầu vồng trang trí trời mây

Trên những lớp hoa, trong lúc vui say

Các người tiên nghỉ ngơi thoải mái

Và gió biển thơm nồng ru êm ái

Đưa họ vào giấc ngủ thần tiên

Song xứ thần tiên cũng chỉ là bóng đêm

Bên cạnh thế giới mà các tiên mơ ước thấy

Và lần đầu được ôm riết người đàn bà yêu quý

Người đàn ông hưởng hạnh phúc vô giá dưới

Nguyễn Xuân Sanh là một gương mặt nổi bật của làng văn học Việt Nam. Qua bài viết chúng ta chiêm ngưỡng những thi phẩm đặc sắc của ông để rồi hiểu thêm lý do vì sao ông được mọi người đánh giá cao như vậy. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết này của chúng tôi!

Xem Thêm: Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh cùng chùm thơ dịch của Petőfi Sándor phần 1

Theo Thuvientho.com

Check Also

Ảnh minh họa (nguồn internet)

Top 20 Bài thơ hay viết tặng cho những người sinh nhật tháng 12

Tháng mười hai, tháng cuối cùng của một năm dài đầy những biến động và …

Nhận thông báo qua email
Nhận thông báo cho
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments