Home / Chùm thơ chọn lọc / Hoàng Trung Thông Cùng Những Tác Phẩm Dịch Đặc Sắc Phần 1

Hoàng Trung Thông Cùng Những Tác Phẩm Dịch Đặc Sắc Phần 1

Hoàng Trung Thông Cùng Những Tác Phẩm Dịch Đặc Sắc Phần 1

Hoàng Trung Thông là một nhà thơ lớn của . Ông đóng góp một phần không nhỏ cho nền Văn học nước nhà. Ông còn được biết đến là một nhà thơ sở hữu một kho tàng thơ ấn tượng. Những bài thơ của ông mang tính thời sự kèm theo đó là những cảm xúc, nỗi niềm của ông làm cho thơ ông trở nên gần gũi với quý độc giả

Ngoài những bài thơ nổi tiếng làm nên tên tuổi của ông thì ông còn là tác giả của rất nhiều bài thơ dịch của những nhà thơ lớn trên thế giới. Không phải ca ngợi nhưng chúng ta phải thừa nhận rằng ông thật đa tài, thông hiểu ngôn ngữ mới có thể làm được điều mà người khác tưởng chừng không thể làm được

Ngay bây giờ, chúng ta hãy cùng nhau khám phá những bài thơ dịch của ông để cảm nhận sự tài hoa của Hoàng Trung Thông nhé!

I. Đôi Nét Về Nhà Thơ Hoàng Trung Thông

– Nhà thơ Hoàng Trung Thông (1925-1993) còn có những bút danh khác như Đặc Công, Bút Châm, quê quán xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, nguyên là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Viện trưởng Viện Văn học (Việt Nam).

– Hoàng Trung Thông tham gia cách mạng từ trước 1945 trong phong trào Việt Minh, từng đảm nhiệm các chức trách: cán bộ văn nghệ của khu uỷ Liên khu IV, tỉnh uỷ viên tỉnh uỷ Nghệ An, uỷ viên Tiểu ban Văn nghệ Trung ương; thư ký toà soạn tạp chí Văn nghệ thuộc Hội Văn nghệ Việt Nam; tổng biên tập báo Văn nghệ, báo Tác phẩm mới của Hội Nhà văn Việt Nam; Giám đốc Nhà xuất bản Văn học, Vụ trưởng Vụ Văn nghệ thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương; Viện trưởng Viện Văn học (1976-1985).

+ Tác phẩm:

Tiểu luận phê bình:

– Chặng đường mới của văn học chúng ta (1961)

– Cuộc sống thơ và thơ cuộc sống (1979)

+ Thơ:

– Quê hương chiến đấu (1955)

– Đường chúng ta đi (1960)

– Những cánh buồm (1964)

– Đầu sóng (1968)

– Trong gió lửa (1971)

– Như đi trong mơ (1977)

– Chiến công tuổi thơ (1983)

+ Các tác phẩm do Hoàng Trung Thông dịch:

Puskin (Nga)

– Nàng công chúa thiên nga

– Ông lão đánh cá và con cá vàng

– Người tù Kavkaz

– Đoàn người Di Gan

– Thơ Liên Xô (Nhiều người dịch)

Maiakovski (Nga)

– Quay trái

– Nhật lệnh số 1 của đoàn quân nghệ thuật

– Lê Nin (trích trường ca)

– Cáo biệt

– Nói chuyện với Lê Nin

– Bài thơ hay nhất

– Tờ hộ chiếu Liên Xô

– Chuyện người Ku zơ nét và xây dựng Ku zơ nét

– Bọn phá hoại và tụi giết người

– Những người loạn họp

– Những thằng nịnh hót

– Bọn đặt điều nói nhảm

– Làm thơ như thế nào (dịch cùng Lê Đạt)

Konstantin Simonov (Nga)

– Mùa đông năm 70

Thơ Triệu Cơ Thiên (Triều Tiên)

– Triều Tiên chiến đấu

Thơ Đức

– Thơ Heine (dịch cùng Tế Hanh)

Thơ Trung Quốc

– Thơ và từ Mao Chủ tịch (dịch cùng Nam Trân)

– Vương Quý và Lý Hương Hương (thơ của Lý Quí)

– Về Diên An (Nhiều tác giả)

– Thơ Lỗ Tấn (1 bài)

Thơ Hunggari

– Thơ Petophi (17 bài)

Thơ Ba Lan

– Thơ Adam Mickievich (6 bài)

– Thơ Wladislawz Bronievski (5 bài)

Thơ Châu Phi

– Những nhà thơ da đen (8 bài)

Thơ chữ Hán Việt Nam

– Thơ Cao Bá Quát

Thơ Pháp

– Louis Aragon (2 bài)

– Eugène Pottier (2 bài)

– Louis Michel (1 bài)

– Jean Baptiste Clément (1 bài)

– Victor Hugo (1 bài)

II. Những Bài Thơ Dịch Đặc Sắc Của Ông

Hoàng Trung Thông được mọi người biết đến là một nhà thơ thiên tài với khả năng sáng tác được nhiều người ngưỡng mộ. Thơ ông mang những nét đặc sắc riêng chỉ mình ông mới có. Thơ của ông vẹn nguyên giá trị đến ngày nay. Bên cạnh đó ông có một bộ sưu tập những bài thơ dịch của nhiều nhà thơ lớn trên thế giới

Vậy hôm nay chúng ta cùng nhau cảm nhận ngòi bút tài hoa của ông nhé!

Bà Tvacđôpxka Pani Twardowska

Jedzą, piją, lulki palą,

Tańce, hulanka, swawola;

Ledwie karczmy nie rozwalą,

Cha cha, chi chi, hejza, hola!

Twardowski siadł w końcu stoła,

Podparł się w boki jak basza;

Hulaj dusza! hulaj! woła,

Smiészy, tumani, przestrasza.

Zołniérzowi, co grał zucha,

Wszystkich łaje i potrąca;

Swisnął szablą koło ucha,

Już z żołniérza masz zająca.

Na patrona s trybunału,

Co milczkiem wypróżniał rondel,

Zadzwonił kieską pomału,

S patrona robi się kondel.

Szewcu w nos wyciął trzy sczutki,

Do łba przymknął trzy rureczki,

Cmoknał, cmok, i gdańskiéj wódki,

Wytoczył ze łba półbeczki.

Wtém gdy wódkę pił s kielicha,

Kielich zaświstał, zazgrzytał;

Patrzy na dno, co u licha?

Po coś tu kumie zawitał?

Djablik to był w wódce na dnie,

Istny Niemiec, stuczka kusa,

Skłonił się gościom układnie,

Zdjął kapelusz i dał susa.

S kielicha aż na podłogę

Pada, rośnie na dwa łokcie,

Nos jak haczyk, kurzą nogę,

I krogulcze ma paznokcie.

A Twardowski? witam bracie

To mówiąc bieży obsesem:

Cóż to, czyliż mię nie znacie?

Jestem Mefistofelesem.

Wszak ze mnąś na łyséj górze

Robił o duszę zapisy;

Cyrograf na byczéj skórze

Podpisałeś ty, i bisy.

Miały słuchać twego rymu;

Ty, jak dwa lata przebiegą,

Miałeś pojechać do Rzymu,

By cię tam porwać jak swego.

Już i siedém lat uciekło,

Cyrograf nadal nie służy;

Ty czarami dręcząc piekło,

Ani myślisz o podróży.

Ale zemsta choć leniwa,

Nagnała cię w nasze sieci;

Ta karczma Rzym się nazywa,

Kładę areszt na waszeci.”

Twardowski ku drzwióm się kwapił[1],

Na takie dictum acerbum[2],

Djabeł za kuntusz[3] ułapił,

“A gdzie jest nobile verbum[4]?”

Co tu począć, kusa rada,

Przyjdzie już nałożyć głową.

Twardowski na koncept[5] wpada,

I zadaje trudność nową.

Patrz w kontrakt Mefistofilu,

Tam warunki takie stoją:

Po latach tylu a tylu,

Gdy przyjdziesz brać duszę moją,

Będę miał prawo trzy razy

Zaprządz ciebie do roboty,

A ty najtwardsze rozkazy,

Musisz spełnić co do joty.

Patrz oto jest karczmy godło,

Koń malowany na płótnie;

Ja chcę mu wskoczyć na siodło,

A koń niech s kopyta utnie.

Skręć mi przytém biczyk z piasku,

Zebym miał czém konia chłostać,

I wymuruj gmach w tym lasku,

Bym miał gdzie na popas zostać.

Gmach będzie z ziarnek orzecha,

Wysoki pod szczyt Krępaku,

Z bród żydowskich ma bydź strzecha

Pobita nasieniem z maku.

Patrz oto na miarę cwieczek,

Cal gruby, długi trzy cale,

W każde z makowych ziareczek

Wbij mnie takie trzy bratnale.

Mefistofil duchem skoczy,

Konia czyści, karmi, poi,

Potem bicz z piasku utoczy,

I już w gotowości stoi.

Twardowski dosiadł biegusa,

Probuje podskoków, zwrotów;

Stępa, galopuje, kłusa,

Patrzy, aż i gmach już gotów.

No wygrałeś Panie bisie

Lecz druga rzecz nieskończona,

Trzeba skąpać się w téj misie,

A to jest woda święcona.

Diabeł kurczy się, i krztusi

Aż zimny pot na nim bije;

Lecz pan każe, sługa musi,

Skąpał się biedak po szyję.

Wyleciał potem jak z procy,

Otrząsł się, dbrum, parsknął raźnie.

— Teraz jużeś w naszéj mocy,

Najgorętsząm odbył łaźnię. —

— Jeszcze jedno, będzie kwita,

Zaraz pęknie moc czartowska;

Patrzaj oto jest kobiéta,

Moja żoneczka Twardowska.

Ja na rok u Belzebuba

Przyjmę za ciebie mieszkanie.

Niech przez ten rok moja luba

S tobą, jak z mężem zostanie.

Przysiąż jéj miłość, szacunek,

I posłuszeństwo bez granic;

Złamiesz choć jeden warunek,

Już cała ugoda za nic.

Djabeł do niego pół ucha,

Pół oka zwrócił do samki,

Niby patrzy, niby słucha,

Tymczasem już blisko klamki.

Gdy mu Twardowski dokucza,

Od drzwi, od okien odpycha,

Czmychnąwszy dziurką od klucza,

Dotąd, jak czmycha tak czmycha

Bản Dịch

Đang hút, đang ăn, đang nhậu nhẹt

Đang nhảy triền miên trong yến tiệc

Quán ăn bỗng chốc lộn tùng phèo

Tiếng kêu, tiếng cười, tiếng hò hét

Xem thêm:  Chùm thơ vui chế ngày lễ tình yêu 14/2, Valentine của FA

Lão già Tvacđôp đứng đầu bàn

Chống tay như tướng, giọng oang oang:

Vui đi, lão nói, vui đi nữa!

Nào cười! Nào lo! Nào hoang mang!

Bên tai cậu lính anh hùng rơm

Đang lấn xô người quanh chỗ đó

Lão già Tvacđôp rít gươm lên

Cậu lính biến ngay thành chú thỏ

Bên tai quan trạng ngồi câm miệng

Uống rượu vừa hâm dốc cạn chén

Lão ta lắc mạnh túi tiền kêu

Quan trạng biến ngay thành chú khuyển

Cầm ba cái ống, búng ba cái

Đặt trên đầu bác thợ khâu giày

Đầu bác tuôn ra nửa thùng rượu

Toàn là rượu mạnh tỉnh Đăngdi

Bỗng nhiên ngụm rượu ực vừa xong

Chiếc cốc rít, chao, và rên rỉ

Lão nhìn đáy cốc: “À con quỷ!

Ông bạn, làm gì trong ấy, ông?

Con quỷ lắc lư dưới đáy cốc

(Từ đầu đến chân một gã Đức!)

Nó nhìn khách khứa, lễ phép chào

Rồi múa tay chân mà nhảy nhót

Từ trong đáy cốc nhảy ngay ra

Nó lớn cao dần đến một thước

Mũi thì mũi quặp, chân, chân gà

Móng vuốt diều hâu đến nhọn sắc

– Chú em Tvacđôp! chào chú em!

Tối nay, chả ngờ gặp anh nhỉ?

Nó đến ôm lão: – Ủa! Mày quên

Tao là Mêphixtôphêlet?

Nhớ chăng mày đã bán linh hồn

Cho tao theo hợp đồng Núi Trọc

Mày và chúng quỷ đều ký tên

Trên tờ hợp đồng da bò tót

Hai năm chúng tớ phục tùng mày

Mày cũng hai năm đã đến ngày

Phải đi sang tận thành La Mã

Sẵn sàng tất cả đưa mày đi

Bảy năm cứ thế bảy năm trôi

Tờ hợp đồng nay đã cũ rồi

Mày vẫn ngang nhiên phù với phép

Chuyện đi nào có thấy tăm hơi

Phải báo thù thôi dẫu quá ngày

Bây giờ mày đã nằm trong tay

Quán ăn còn đặt quán La Mã

Nhân danh quỷ sứ, tao bắt mày

Quỷ đọc dictum acerbum

Lão già Tvacđôp nhoài ra cửa

Con quỷ đã giằng áo lão ta:

– Mày định nuốt trôi hở?

Làm gì? Không thể chần chừ lâu

Nhất định hôm nay phải nộp đầu

Lão già Tvacđôp vụt nhanh trí

Nghĩ ra một ý, nói lên mau:

– Ngài Mêphixtô, cứ đọc lại

Trong bản hợp đồng có khoản cuối

Đã ghi đến khoảng bao nhiêu năm

Khi ngài đến kiếm hồn tôi đấy

Tôi được đề ra ba nhiệm vụ

Bắt ngài nhất định phải hoàn thành

Ngài phải vâng lời, không lưỡng lự

Dù là mệnh lệnh gì khó khăn

Thì kìa, cái biển quán hàng kia

Có con ngựa vẽ trên tấm vải

Tôi muốn lập tức nhảy lên yên

Cho nó chở tôi phi nước đại

Rồi ngài lấy cát bện thành roi

Cho tôi điều khiển con ngựa tôi

Rừng kia, ngài dựng toà lầu nữa

Tôi ngồi ăn uống và nghỉ ngơi

Lầu phải xây bằng nhân hồ đào

Mà phải cao hơn ngọn Kacpat

Lấy râu Do Thái lợp mái lầu

Đóng đinh bằng hạt hoa anh túc

Đây chiếc đinh này làm mẫu mực

Bề dày một tấc, bề dài ba

Làm sao mỗi hạt hoa anh túc

Ba cái đinh này phải đóng qua

Mêphixtô nhảy cẫng mừng vui

Buộc băng chăm sóc cho con ngựa

Rồi nó lấy cát bện thành roi

Tất thảy mọi điều làm đủ cả

Lão già Tvacđôp nhảy lên ngựa

Quất nó lồng lên quay bốn vó

Bước một! Nước kiệu! rồi phi nhanh

Trước mặt, lâu đài đã dựng đó

– Thôi được, thầy Quỷ, ngài thắng rồi!

Nhưng mới làm xong nửa việc thôi

Bây giờ đến lượt ngài phải tắm

Bơi ngay trong nước thánh cho tôi

Con quỷ vặn, nhăn, giọng thều thào

Khắp người lạnh toát mồ hôi đổ

Nhưng mà chủ nói: phải vâng lời

Và nó nhào vô tắm đến cổ

Nó nhảy liền ra như đá lao

Khịt mũi, hắt hơi và vui vẻ:

Bây giờ mày đã thuộc quyền tao

Gớm, chả bao giờ tắm bẩn thế!

– Còn việc này nữa là xong thôi

(Con quỷ tội nghiệp đến chết mất!)

Nhìn đây: bà vợ quý của tôi

Giới thiệu với ngài bà Tvacđôp

Tôi sẽ thay ngài đúng một năm

Tới ở với quỷ Benzêbut

Ngài đến nhà tôi mà ở ăn

Thay tôi làm chồng bà Tvacđôp

Phải thề kính trọng và thương yêu

Và phải vâng lời bà tuyệt đối

Dù chỉ sai thất lấy một điều

Thì bản hợp đồng thành giấy loại

Con quỷ chỉ còn nghe nửa tai

Nửa mắt quay nhìn mụ Tvacđôp

Giả vờ lắng nghe, vờ ngắm coi

Thì kia hắn nhoài ra cửa tếch

Nhưng lão Tvacđôp chặn đường nó

Ngăn hết cửa to và cửa nhỏ

Chui qua lỗ khoá, quỷ chuồn ra

Rồi chạy cắm đầu và cắm cổ

Con cá nhỏ Rybkka

Od dworu, spod lasa, z wioski,

Smutna wybiega dziewica,

Rozpuściła na wiatr włoski

I łzami skropiła lica.

Przybiega na koniec łączki,

Gdzie w jezioro wpada rzeka;

Załamuje białe rączki

I tak żałośnie narzeka:

“O wy, co mieszkacie w wodzie,

Siostry moje, Świtezianki,

Słuchajcie w ciężkiej przygodzie

Głosu zdradzonej kochanki.

“Kochałam pana tak szczerze,

On mię przysięgał zaślubić,

Dziś księżnę za żonę bierze,

Krysię ubogą chce zgubić.

“Niechże sobie żyją młodzi,

Niech się z nią obłudnik pieści,

Niech tylko tu nie przychodzi

Urągać się z mych boleści.

“Dla opuszczonej kochanki

Cóż pozostało na świecie?

Przyjmijcie mię, Świtezianki!

Lecz moje dziecię… ach, dziecię!”

To mówiąc rzewnie zapłacze,

Rączkami oczy zasłoni

I z brzegu do wody skacze,

I w bystrej nurza się toni.

Wtem z lasu, gdzie się dwór bieli,

Tysiączne świecą kagańce,

Zjeżdżają goście weseli,

Muzyka, hałas i tańce.

Lecz mimo tego hałasu

Płacz dziecięcia słychać w lesie,

Wierny sługa wyszedł z lasu

I dziecię na ręku niesie.

Ku wodzie obraca kroki,

Gdzie łoza, gęsto spleciona,

Wzdłuż wykręconej zatoki

Okryła rzeki ramiona.

Tam staje w ciemnym zakątku,

Płacze i woła: “Niestety!

Ach, któż da piersi dzieciątku?

Ach! gdzie ty, Krysiu, ach, gdzie ty?”

“Tu jestem, w rzece u spodu –

Cichy mu głos odpowiada –

Tutaj drżę cała od chłodu,

A żwir mnie oczki wyjada.

“Przez żwir, przez ostre kamuszki

Fale mnie gwałtowne niosą,

Pokarm mój koralki, muszki,

A zapijam zimną rosą”.

Lecz sługa, jak na początku,

Tak wszystko woła: “Niestety!

Ach, któż da piersi dzieciątku?

Ach, gdzie ty, Krysiu, ach, gdzie ty?”

Wtem się cóś z lekka potrąci

Śród kryształowej przezroczy,

Woda się z lekka zamąci,

Rybka nad wodę podskoczy;

I jak skałka płaskim bokiem

Gdy z lekkich rąk chłopca pierzchnie,

Tak nasza rybka podskokiem

Mokre całuje powierzchnie.

Złotymi plamki nadobna,

Kraśne ma po bokach piórka,

Główka jak naparstek drobna,

Oczko drobne jak paciórka.

Wtem rybią łuskę odwinie,

Spójrzy dziewicy oczyma,

Z głowy jasny włos wypłynie,

Szyjka cieniuchna się wzdyma.

Na licach różana krasa,

Piersi jak jabłuszka mleczne,

Rybią ma płetwę do pasa;

Płynie pod chrusty nadrzeczne.

I dziecię bierze do ręki,

U łona białego tuli,

“Luli – woła – mój maleńki,

Luli, mój maleńki, luli”.

Gdy dziecię płakać przestało,

Zawiesza kosz na gałęzi

I znowu ściska swe ciało,

I główkę nadobną zwęzi.

Znowu ją łuski powleką,

Od boków wyskoczą skrzelki,

Plusła, i tylko nad rzeką

Kipiące pękły bąbelki.

Tak co wieczora, co ranka,

Gdy sługa stanie w zakątku,

Wraz wypływa Świtezianka,

Źeby dać piersi dzieciątku.

Za cóż jednego wieczora

Nikt nie przychodzi na smugi?

Już zwykła przemija pora;

Nie widać z dziecięciem sługi.

Nie może on przyjść tą stroną,

Musi zaczekać troszeczkę,

Bo właśnie teraz pan z żoną

Poszli przechadzką nad rzeczkę.

Wrócił się, czekał z daleka,

Za gęstym usiadłszy krzakiem;

Lecz próżno czeka i czeka,

Nikt nie powracał tym szlakiem.

Wstaje i dłoń w trąbkę zwinął,

I patrzył przez palców szparę,

Ale i dzień już przeminął,

I mroki padają szare.

Czekał długo po zachodzie,

A gdy noc gwiazdy zapala,

Zbliża się z lekka ku wodzie

I śledzi oczyma z dala.

Przebóg! cudy, czy moc piekła!

Uderza go widok nowy.

Gdzie pierwej rzeczułka ciekła,

Tam suchy piasek i rowy.

Na brzegach porozrucana

Wala się odzież bez ładu,

Ani pani, ani pana

Nie widać nigdzie ni śladu.

Xem thêm:  Bài thơ Giã biệt tháng năm – Nhà thơ Nguyễn Đình Huân

Tylko z zatoki połową

Sterczał wielki głazu kawał

I dziwną kształtu budową

Dwa ludzkie ciała udawał.

Zdumiewa się wierny sługa,

Rozpierzchłych myśli nie złowił;

Przeszła godzina i druga,

Nim wreszcie słówko przemówił.

“Krysiu, o Krysiu!” – zawoła;

Echo mu “Krysiu” odpowie;

Lecz próżno patrzy dokoła,

Nikt nie pokazał się w rowie.

Patrzy na rów i na głazy,

Otrze pot na licu zbladłem,

I kiwnie głową trzy razy,

Jakby chciał mówić: już zgadłem.

Dzieciątko na ręce bierze,

Śmieje się dzikim uśmiechem,

I odmawiając pacierze

Wraca do domu z pośpiechem

Bản Dịch

Từ ngôi hoàng cung, ven rừng cây rậm

Như điên cuồng, một thiếu phụ chạy ra

Mái tóc nàng phất phơ trước gió

Trên mặt nàng nước mắt như mưa

Nàng chạy đến phía tận cùng đồng cỏ

Nơi dòng sông chảy đổ ra hồ

Nàng tuyệt vọng, vặn cánh tay trắng trẻo

Miệng nguyện cầu than thở nhỏ to:

– Hỡi các chị nơi sóng cuộn xanh trong

Dưới Sơvitez xứ sở

Các chị tiên ơi, hãy nghe chuyện đau buồn

Nghe tiếng nói một người tình phụ

Em chân thành mến yêu vương tử

Người hứa ngày kia sẽ cưới em về

Nhưng lại lấy một công nương làm vợ

Bỏ rơi em và đã đẩy em đi

Cặp xuân xanh kia cứ chung sống bên nhau hạnh phúc

Kẻ bạc tình cứ âu yếm nàng thêm

Nhưng đừng đến chốn này theo đuổi

Để nhạo cười điều khổ nhục của em

Có còn gì, có còn gì ở thế gian này nữa

Cho một người yêu đã bị ?

Hỡi các tiên nữ Sơvitez, hãy đón em xuống nước

Nhưng con em? đứa trẻ vừa sinh?

Nàng than vãn, buồn rầu, sướt mướt

Che mắt nhìn sau những ngón tay

Từ trên bến vụt lao mình xuống nước

Rồi theo xoáy nước cuốn chìm ngay

Từ trong rừng ngôi hoàng cung trắng xoá

Chập chờn nghìn ánh đuốc sáng chưng

Các tân khách vào ra hể hả

Tiếng cười reo đêm yến tiệc tưng bừng

Nhưng giữa tiếng cười vui ầm ĩ

Nghe vang lên tiếng khóc trẻ thơ

Người lão bộc ôm trong lòng em bé

Từ khu rừng đi ra

Lão đi đến bờ sông, lau sậy

Đang dệt thành tấm lưới ở đây

Nơi đổ đến một vùng khúc khuỷu

Sông chảy về như uốn cánh tay

Lão dừng lại một góc rừng tăm tối

Khóc nghẹn ngào rồi bỗng kêu to:

Ôi đứa trẻ rồi ai cho bú?

Kryxi ơi, bà ở đâu bà?

– Tôi ở đây – một tiếng êm đáp lại

Tôi ở từ dưới đáy sông đây

Tôi rét quá cả người run rẩy

Đá sỏi đang gặm hết mặt mày

Giữa cát sỏi, giữa những hòn đá nhọn

Tôi cuốn theo sóng dữ đẩy đưa

Tôi uống toàn hạt sương giá đọng

Tôi ăn toàn sâu bọ, san hô

Người lão bộc đứng nguyên như cũ

Cứ khóc hoài rồi lại kêu to:

Ôi đứa trẻ rồi ai cho bú?

Kryxi ơi, bà ở đâu bà?

Cái gì bỗng nhẹ nhàng động đậy

Giữa bao nhiêu lớp sóng thuỷ tinh

Mặt gương trong gợn lên, xạm lại

Con cá con trên mặt nước tung mình

Như hòn sỏi từ trong tay chú bé

Đứng trên bờ đang vụt ném thia lia

Con cá cũng theo đường đi lướt nhẹ

Chéo thia lia trên mặt nước vào kia

Nó đẹp quá với lằn da vàng óng

Với những đường đỏ thắm bên hông

Đầu con cá như nhẫn khâu bé nhỏ

Mắt ngời lên như hạt ngọc xanh trong

Vẩy cá bỗng lột xuống

Mắt nhìn như cô gái đang nhìn

Sóng tóc hung từ trên đầu rủ lượn

Cổ tròn đầy, con mắt ánh lên

Kìa đôi vú trắng như hai quả táo

Khuôn mặt xinh tô thắm sắc hồng

Nhưng vẩy còn giữ từ hông trở xuống

Nàng bơi vào đến sát bờ sông

Đỡ con nhỏ trên tay, nàng ôm chặt

Con vào lòng, sát ngực trắng tươi

Ngủ con nhé! – tiếng ru êm dìu dặt

Ngủ đi con, nàng nói, ngủ con ơi!

Khi đứa bé nằm im, nàng lấy mắc

Chiếc nôi con trên một cành cây

Tấm thân nàng cứ thu dần trở lại

Cái đầu xinh cũng nhỏ theo ngay

Và vẩy cá mọc lên mình như cũ

Hai cái vây cũng mọc hai bên

Nàng lặn xuống, dòng sông hé mở

Nhìn chỉ còn bong bóng nổi lên

Người lão bộ cứ trở ra chỗ đó

Mỗi buổi chiều tà, mỗi buổi bình minh

Nàng tiên nữ Sơvitez lại nổi lên mặt nước

Và bơi vô cho bú con mình

Nhưng một chiều nàng rình đợi mãi

Chẳng có ai trên đồng cỏ hiện ra

Không có cụ già và đứa bé

Giờ hẹn hò thường lệ đã trôi qua

Lão không thể theo con đường quen cũ

Mà phải đợi chờ một lúc sau

Trên bờ sông, đức vua và hoàng hậu

Đúng chỗ này đang dạo bước cùng nhau

Vội lùi chân từ xa đứng ngó

Lão nấp sau một dãy bờ rào

Lão đợi hoài, ngó rồi ngó mãi

Trên đường đi không thấy họ quay vào

Lão đứng dậy, lấy bàn tay che mắt

Rồi lại nhìn khép chặt ngón tay

Ngày đã tàn, ánh chiều đà xám ngắt

Bóng của hoàng hôn đã phủ đầy

Lão đứng đợi mặc dầu nắng tắt

Ánh sao đêm đã hiện cả ra

Lão rón rén bước gần từng bước

Trong sương mù đứng ngó xa xa

Ôi trời hỡi! phép lạ gì kỳ quái

Mắt của mình ai làm bị thương đây?

Ở nơi ấy xưa dòng sông vẫn chảy

Giờ chỉ còn hang, còn có cát đầy

Những quần áo, trên bờ sông, bỏ đó

Trông ngổn ngang bừa bãi trước sau

Còn hai người đã cùng nhau đi dạo

Nhìn khắp nơi còn dấu vết gì đâu

Chỉ trên bãi cát bồi, trong bùn đất

Một mỏm đá khổng lồ như một chứng nhân

Còn đứng thẳng, theo dáng hình kỳ quặc

Giống như hình hai kẻ tình nhân

Người lão bộc kinh hoàng quá đỗi

Đầu óc như xáo trộn lên rồi

Một giờ qua, một giờ khác tới

Mà vẫn chưa nói được nên lời

Kryxi, Kryxi ơi! lão gọi

Kryxi! Chỉ tiếng vang lạnh lẽo trả lời

Lão ngó quanh nhưng nào có thấy

Từ hang sâu chẳng hiện bóng người

Lão ngó xuống hang sâu, nhìn lên mỏm đá

Lau vệt mồ hôi trên trán nhợt xanh

Lão gật đầu như trong giấc mộng

Đã đoán ra được chút ngọn ngành

Bế em bé lên tay, lão cười ngây ngất

Cười dị kỳ như mất trí khôn

Cười dã man rồi nguyện cầu lâu mãi

Lão chạy ù về tới nhà luôn

Lãng mạn Romantyczność

Słuchaj, dzieweczko!

– Ona nie słucha –

To dzień biały! to miasteczko!

Przy tobie nie ma żywego ducha.

Co tam wkoło siebie chwytasz?

Kogo wołasz, z kim się witasz?

– Ona nie słucha. –

To jak martwa opoka

Nie zwróci w stronę oka,

To strzela wkoło oczyma,

To się łzami zaleje;

Coś niby chwyta, coś niby trzyma;

Rozpłacze się i zaśmieje.

“Tyżeś to w nocy? to ty, Jasieńku!

Ach! i po śmierci kocha!

Tutaj, tutaj, pomaleńku,

Czasem usłyszy macocha!

Niech sobie słyszy, już nie ma ciebie!

Już po twoim pogrzebie!

Ty już umarłeś? Ach! ja się boję!

Czego się boję mego Jasieńka?

Ach, to on! lica twoje, oczki twoje!

Twoja biała sukienka!

I sam ty biały jak chusta,

Zimny, jakie zimne dłonie!

Tutaj połóż, tu na łonie,

Przyciśnij mnie, do ust usta!

Ach, jak tam zimno musi być w grobie!

Umarłeś! tak, dwa lata!

Weź mię, ja umrę przy tobie,

Nie lubię świata.

Źle mnie w złych ludzi tłumie,

Płaczę, a oni szydzą;

Mówię, nikt nie rozumie;

Widzę, oni nie widzą!

Śród dnia przyjdź kiedy… To może we śnie?

Nie, nie… trzymam ciebie w ręku.

Gdzie znikasz, gdzie, mój Jasieńku!

Jeszcze wcześnie, jeszcze wcześnie!

Xem thêm:  Bài thơ Ghen Nguyễn Bính – Chút gia vị không thể thiếu trong tình yêu

Mój Boże! kur się odzywa,

Zorza błyska w okienku.

Gdzie znikłeś? ach! stój, Jasieńku!

Ja nieszczęśliwa”.

Tak się dziewczyna z kochankiem pieści,

Bieży za nim, krzyczy, pada;

Na ten upadek, na głos boleści

Skupia się ludzi gromada.

“Mówcie pacierze! – krzyczy prostota –

Tu jego dusza być musi.

Jasio być musi przy swej Karusi,

On ją kochał za żywota!”

I ja to słyszę, i ja tak wierzę,

Płaczę i mówię pacierze.

“Słuchaj, dzieweczko!” – krzyknie śród zgiełku

Starzec, i na lud zawoła:

“Ufajcie memu oku i szkiełku,

Nic tu nie widzę dokoła.

Duchy karczemnej tworem gawiedzi,

W głupstwa wywarzone kuźni.

Dziewczyna duby smalone bredzi,

A gmin rozumowi bluźni”.

“Dziewczyna czuje, – odpowiadam skromnie –

A gawiedź wierzy głęboko;

Czucie i wiara silniej mówi do mnie

Niż mędrca szkiełko i oko.

Martwe znasz prawdy, nieznane dla ludu,

Widzisz świat w proszku, w każdej gwiazd iskierce.

Nie znasz prawd żywych, nie obaczysz cudu!

Miej serce i patrzaj w serce!”

Bản Dịch

Hãy lắng nghe, hãy lắng nghe, thiếu nữ

Nàng không hề nghe thấy tiếng tôi

Trời sáng bạch rồi, ở đây thành phố

Bên nàng kia, nào có ai ngồi

Nói tôi nghe chi nàng đang theo đuổi

Mà nàng gọi kêu mà nàng chào hỏi?

Nàng không hề nghe thấy tiếng tôi

Khi im lìm như pho tượng đá

Trong mắt nàng không động ánh con ngươi

Khi đôi mắt lạc về xa thẳm

Dưới hàng mi những giọt châu rơi

Người ta bảo nàng đang theo đuổi

Một bóng hình cuối cùng nàng với tới

Nàng khóc nức lên rồi khẽ mỉm cuời

Có phải anh trong đêm em đã thấy

Có phải anh. Jean, người bạn của em?

Ừ có phải sau khi đã chết

Cũng vẫn còn yêu mãi yêu thêm?

Hãy đến đây bước chân đi rón rén

Kẻo dì em nghe thấy lại phiền

Cứ để cho mụ ta nghe thấy tất

Anh còn đâu nữa ở dương gian

Thân anh đã nằm sâu dưới đất

Ôi sợ quá chừng, anh chết thật rồi chăng?

Jean của tôi, sao tôi lại sợ Jean

Đúng Jean đấy tôi đà nhận biết

Đôi mắt anh và bao nhiêu hình nét

Đây áo quần trắng toát của anh

Như vải liệm trên mình, anh trắng nhợt

Đôi bàn tay giá ngắt như băng

Đặt lên đây, hãy đặt lên trước ngực

Môi kề môi ôm chặt lấy em, anh!

Ở dưới mồ chắc là lạnh lắm

Anh chết rồi, vâng, đã hai năm

Đưa em đi em sẽ chết bên anh

Cõi trần này em không còn thiết nữa

Em cảm thấy bao nhiêu đau khổ

Em khóc than, họ nhạo cười em

Em nói gì, họ cũng không thể hiểu

Em thấy gì, họ cũng thấy như đêm

Anh hãy đến giữa ban ngày một lần, hay nữa

Đến từ trong giấc ngủ của em đây

Không, không, em phải được nắm trong tay

Jean của em ơi, anh biến về đâu mất

Khi trời đêm vừa hé ánh ban ngày

Ôi trời hỡi tiếng gà đã gáy

Ánh bình minh đã lọt qua song

Có lẽ nào anh đà biến mất

Bỏ mình em đau khổ lạnh lùng

Người thiếu nữ than van tha thiết

Như thế này bên cạnh người yêu

Nàng kêu gọi nàng theo hình bóng ấy

Nàng chạy, kia, nàng đã ngã nhào

Trước tai nạn, đám người hiếu sự

Xúm xít cùng nhau quây cả vào

Cất tiếng nói những người chân thực

Bảo vì nàng hãy đọc lời kinh

Linh hồn nàng đã trung thành theo đuổi

Với bóng hình vùi dưới đá xanh

Nàng Charlot bên chàng Jean tha thiết

Như chàng xưa còn sống đã yêu mình

Tôi nghe chuyện và tôi tin tất cả

Nước mắt trào rơi, tôi nguyện cầu

Từ đám đông bỗng nhiên tiếng thét

Đã cất lên át tiếng ồn ào:

– Này nghe đây, hãy nghe đây, cô gái

Một ông già cất giọng gọi to

Xông lên trước đám người ông giảng giải

Hãy nghe ta, hãy cứ tin ta

Mắt ta tỏ mà kính ta cũng sáng

Ta đã nhìn mà chẳng thấy gì qua

Cô con gái kể ra đủ thứ

Hồn ma là những chuyện bịa ra

Cho những chốn chợ phiên, tiệm rượu

Sự ngu si đúc thành chuyện vẩn vơ

Nếu tai nghe điều nhảm nhí hồ đồ

Dân chúng phải tấn công vì

Tôi khiêm tốn cất lời đáp lại:

Thiếu nữ đây tình cảm chứa chan

Mà câu chuyện có sâu sắc

Niềm tin sâu và cảm tình chân thực

Còn nghìn lần hùng biện cả hơn

Kính và mắt của nhà bác học

Ngài biết nhiều chân lý chết khô

Mà dân chúng không cần hiểu biết

Ngài thấy cả thế gian trong hạt bụi gió đưa

Trong ánh sáng của vì sao nhỏ

Nhưng ngài không thể nào biết rõ

Những quy luật của chân lý sâu xa

Không sự kỳ lạ nào ngài có thể thấy qua

Vì phải nhìn bằng trái tim mình

Nhìn tận đáy những trái tim mới thấy

Nhịp điệu và ngọn lửa Fogo e ritmo

Sons de grilhetas nas estradas

cantos de pássaros

sob a verdura úmida das florestas

frescura na sinfonia adocicada

dos coqueirais

fogo

fogo no capim

fogo sobre o quente das chapas do Cayatte.

Caminhos largos

cheios de gente cheios de gente

em êxodo de toda a parte

caminhos largos para os horizontes fechados

mas caminhos

caminhos abertos por cima

da impossibilidade dos braços.

Fogueiras

dança

tamtam

ritmo

Ritmo na luz

ritmo na cor

ritmo no movimento

ritmo nas gretas sangrentas dos pés descalços

ritmo nas unhas descarnadas

Mas ritmo

ritmo.

Ó vozes dolorosas de África!

Bản Dịch

Tiếng xiềng sát trên đường loảng xoảng

Trong bóng biếc rừng cây

Tiếng líu lo chim hót

Hoà nhịp cùng cây cọ lung lay

Ngọn lửa

Ngọn lửa trong cổ đại cao bằng người

Ngọn lửa trên mái nhà gianh bé thấp

Con đường dài tít tắp

Hàng vạn

Hàng vạn

người đi

Từ các nơi quân lính dồn về

Trên đường dài tít tắp

Con đường đi tới chốn mịt mù khơi

Những con người hai cánh tay gầy guộc rã rời

Càng lâu càng đông mãi

Trên đường dài tít tắp mù khơi

Ngọn lửa

Trống rền và nhảy múa

Những nhịp điệu của ánh sáng và sắc màu

Những nhịp điệu của hành động và trống rền

Những nhịp điệu của bước bàn chân rách nát

Những nhịp điệu của máu rơi thấm cát

Nhịp điệu khắp nơi – nhịp điệu muôn đời

Những nhịp điệu của chân phù chảy máu

Bông hoa nhỏ Цветок

Цветок засохший, безуханный,

Забытый в книге вижу я;

И вот уже мечтою странной

Душа наполнилась моя:

Где цвёл? когда? какой весною?

И долго ль цвёл? И сорван кем,

Чужой, знакомой ли рукою?

И положен сюда зачем?

На память нежного ль свиданья,

Или разлуки роковой,

Иль одинокого гулянья

В тиши полей, в тени лесной?

И жив ли тот, и та жива ли?

И нынче где их уголок?

Или уже они увяли,

Как сей неведомый цветок?

Bản Dịch

Tôi bỗng thấy một bông hoa khô úa

Quên trong trang sách, đã bay hương

Từ đó lòng tôi bao chan chứa

Tràn ngập niềm mơ ước lạ thường:

Hoa nở nơi nao? Xuân nào vậy?

Nở có lâu không? Ai hái đi?

Một bàn tay lạ hay quen đấy?

Hoa đặt vào đây có chuyện gì?

Hoa kỷ niệm ngày vui xum họp?

Hay một chiều chia ly?

Hay buổi dạo chơi lang thang cô độc?

Dưới bóng rừng cây, đồng nội im lì?

Chắc chàng còn sống? Nàng sống chứ?

Không biết bây giờ họ nơi nao?

Hay cả hai người cùng tàn rũ?

Như bông hoa bí ẩn ngày nào?

Trên đây chúng tôi đã dành tặng bạn những bài thơ bản dịch do Hoàng Trung Thông sáng tác. Mời các bạn đón xem phần 2 vào một ngày không xa. Hy vọng quý độc giả sẽ hài lòng với bài viết này của chúng tôi. Thuvientho.com luôn cập nhật liên tục những bài viết hấp dẫn hằng ngày. Hãy cùng đồng hành với chúng tôi để theo dõi những bài viết hay nhé! Thân Ái!

Theo Thuvientho.com

Check Also

nhung bai tho ngan hay ve hoa dac sac nhat 310x165 - Những bài thơ ngắn hay về hoa đặc sắc nhất

Những bài thơ ngắn hay về hoa đặc sắc nhất

Trong thế giới tự nhiên có muôn vàn loài hoa khác nhau. Mỗi loài hoa …